<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>TBT BỘ VĂN HÓA, THỂ THAO VÀ DU LỊCH &#187; Tin Khoa học-Công nghệ-Môi trường</title>
	<atom:link href="https://tbt.khcnmt-bvhttdl.vn/?cat=7&#038;feed=rss2" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>https://tbt.khcnmt-bvhttdl.vn</link>
	<description>VỤ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ VÀ MÔI TRƯỜNG</description>
	<lastBuildDate>Fri, 27 Feb 2026 08:34:11 +0000</lastBuildDate>
	<language>vi</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	
		<item>
		<title>Kế hoạch khung năm 2026 của Ban chỉ đạo Bộ VHTTDL về phát triển KHCN, ĐMST, CĐS, CCHC và Đề án 06</title>
		<link>https://tbt.khcnmt-bvhttdl.vn/?p=7492</link>
		<comments>https://tbt.khcnmt-bvhttdl.vn/?p=7492#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 29 Jan 2026 07:35:46 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Banbt1</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tin Khoa học-Công nghệ-Môi trường]]></category>

		<guid isPermaLink="false">https://tbt.khcnmt-bvhttdl.vn/?p=7492</guid>
		<description><![CDATA[Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) đã ra Quyết định 158/QĐ-BVHTTDL ban hành Kế hoạch khung năm 2026 của Ban chỉ đạo Bộ VHTTDL về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, cải cách hành chính và Đề án 06. Đối [...]]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;">Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (VHTTDL) đã ra Quyết định 158/QĐ-BVHTTDL ban hành Kế hoạch khung năm 2026 của Ban chỉ đạo Bộ VHTTDL về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, cải cách hành chính và Đề án 06.</p>
<p style="text-align: justify;">Đối với danh mục nhiệm vụ về cải cách hành chính năm 2026, nhóm nhiệm vụ trọng tâm năm 2026 bao gồm: Triển khai Nghị quyết số 66/NQCP ngày 26/3/2025 của Chính phủ; Rà soát các TTHC thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ có thành phần hồ sơ có thể thay thế bằng dữ liệu; Rà soát các thành phần hồ sơ giấy, nghiên cứu đề xuất phát triển, hoàn thiện các trường thông tin trên các CSDL hiện có để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước và mục tiêu thay thế thông tin trong thành phần hồ sơ giấy bằng dữ liệu; Xây dựng và đưa vào vận hành Hệ thống thông tin giải quyết TTHC theo mô hình thống nhất, dùng chung từ Trung ương đến địa phương đối với các TTHC thuộc phạm vi quản lý của Bộ VHTTDL.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhóm nhiệm vụ thường xuyên năm 2026 gồm: Xây dựng Kế hoạch CCHC giai đoạn 2026- 2030 của Bộ VHTTDL; Khảo sát công tác CCHC, cải cách TTHC tại các cơ quan, đơn vị thuộc Bộ và một số địa phương; Kiểm tra công tác CCHC; Triển khai đề án đo lường sự hài lòng của người dân, tổ chức đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính Nhà nước; Thông tin, tuyên truyền CCHC; Kiểm soát TTHC trong quá trình xây dựng văn bản QPPL; Tập huấn nghiệp vụ kiểm soát TTHC; Triển khai tiếp nhận thông tin, xử lý, tháo gỡ hoặc tham mưu xử lý các khó khăn, vướng mắc về cơ chế, chính sách, TTHC là rào cản cho hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp và đời sống của người dân tại các địa phương; Tham vấn ý kiến về các quy định TTHC lĩnh vực VHTTDL; Cải cách thể chế; Cải cách TTHC; Cải cách tổ chức bộ máy; Cải cách chế độ công vụ; Cải cách tài chính công; Xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số; Xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số.</p>
<p style="text-align: justify;">Nhóm nhiệm vụ rà soát, đánh giá quy định TTHC và chuẩn hóa TTHC: Rà soát, đánh giá quy định TTHC của Bộ; Rà soát, đánh giá TTHC theo Nghị định số 118/2025/N Đ-CP thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Bộ phận Một cửa và Cổng Dịch vụ công quốc gia, Nghị định số 45/2020/NĐ-CP về thực hiện TTHC trên môi trường điện tử.</p>
<p style="text-align: justify;">Đối với danh mục nhiệm vụ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo năm 2026 bao gồm: Hướng dẫn, tổng hợp nhiệm vụ, kinh phí nguồn sự nghiệp KHCN, ĐMST và CĐS năm 2026; Xây dựng Đề án nguồn nhân lực chất lượng cao cho công nghiệp nội dung số; Xây dựng Thông tư về quản lý chương trình, nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo của Bộ VHTTDL; Xây dựng định hướng hoạt động KH,CN và ĐMST của Bộ giai đoạn 2026 -2030; Ban hành định mức lập dự toán, quản lý sử dụng và quyết toán kinh phí ngân sách nhà nước đối với một số nội dung chi quản lý hoạt động khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; lập dự toán, quản lý sử dụng và quyết toán một số nội dung chi ngân sách nhà nước thực hiện nhiệm vụ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; Khảo sát hạ tầng công nghệ của các Viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo phục vụ hoạt động đổi mới sáng tạo của Bộ; Kế hoạch tổ chức triển khai nhiệm vụ theo danh mục bài toán lớn của Bộ VHTTDL; Xây dựng kế hoạch thành lập quỹ phát triển khoa học, công nghệ đổi mới sáng tạo; Nghiên cứu xây dựng, ban hành Bộ chỉ số văn hóa quốc gia, Bộ chỉ số thống kê về đóng góp của các ngành công nghiệp văn hóa đối với phát triển kinh tế theo chuẩn mực quốc tế; Nghiên cứu xây dựng thương hiệu quốc gia về công nghiệp văn hóa trong các lĩnh vực có tiềm năng, như: Điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn, du lịch văn hoá, thiết kế và thời trang,&#8230;; Ứng dụng công nghệ số trong giám sát, định hướng nội dung văn hóa trực tuyến; ban hành tiêu chuẩn đối với sản phẩm và môi trường văn hóa số; phát triển dịch vụ văn hóa số gắn với cơ chế quản lý phù hợp, hiệu quả.</p>
<p style="text-align: justify;">Ngoài ra còn có các nhiệm vụ chuyển tiếp từ năm 2025 đó là: Phổ biến Bộ quy tắc ứng xử văn hóa trên môi trường số; Phấn đấu bố trí tỷ lệ phù hợp cán bộ có chuyên môn, kinh nghiệm về khoa học kỹ thuật trong đội ngũ lãnh đạo từng cơ quan, đơn vị nhà nước.</p>
<p style="text-align: justify;">Danh mục nhiệm vụ về chuyển đổi số và đề án 06 năm 2026, bao gồm: Xây dựng kế hoạch triển khai Khung kiến trúc dữ liệu, khung quản trị, quản lý dữ liệu, từ điển dữ liệu dùng chung của Bộ; Xây dựng Khung kiến trúc số Bộ VHTTDL; Xây dựng, triển khai Đề án chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa; Xây dựng quy trình tổ chức thực hiện dự án hoạt động phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; Rà soát, xây dựng, hoàn thiện thể chế về môi trường số để đảm bảo hành lang pháp lý cho các lĩnh vực thuộc bộ; Đảm bảo an ninh và chủ quyền văn hóa số, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, thương hiệu sáng tạo, an ninh văn hóa trên môi trường mạng; Thực hiện lộ trình không duy trì Cổng Dịch vụ công cấp bộ (chuyển sang hệ thống thống nhất từ Trung ương đến địa phương); Xây dựng Mô hình du lịch thông minh ứng dụng các tiện ích của Đề án 06, bảo đảm kết nối với Đề án 06; Hoàn thành triển khai xây dựng, đưa vào khai thác cơ sở dữ liệu chuyên ngành và đồng bộ với CSDL quốc gia; Hoàn thành kết nối, khai thác, chia sẻ hiệu quả dữ liệu; triển khai các sáng kiến mở dữ liệu; Hoàn thành và đưa vào khai thác hiệu quả các CSDL quốc gia, CSDL dùng chung theo danh mục đã ban hành của bộ, ngành, địa phương để phát triển kinh tế-xã hội; Phát triển một số mạng xã hội Việt Nam, xây dựng xã hội số an toàn, lành mạnh; Tổ chức ứng dụng trí tuệ nhân tạo dựa trên dữ liệu lớn trong một số lĩnh vực quan trọng của Bộ; Triển khai các nền tảng số quốc gia, nền tảng dùng chung của ngành VHTTDL theo danh mục đã được ban hành đảm bảo hoạt động thống nhất, liên thông của các ngành, lĩnh vực trên môi trường số (theo Quyết định số 2618/QĐ-BKHCN ngày 11/9/2025 của Bộ Khoa học và Công nghệ).</p>
<p style="text-align: justify;">Nhóm nhiệm vụ thường xuyên gồm: Triển khai đào tạo, bồi dưỡng ứng dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo cho công chức, viên chức thuộc Bộ; Xây dựng chương trình, kế hoạch phát động phong trào học tập trên các nền tảng số để trở thành phong trào &#8220;học tập số&#8221; thường xuyên, liên tục, phổ cập, nâng cao kiến thức về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, kỹ năng số, công nghệ số cơ bản trong cán bộ, công chức.</p>
<p style="text-align: justify;">Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch giao Văn phòng Bộ, Vụ Khoa học công nghệ, Đào tạo và Môi trường, Trung tâm Chuyển đổi số Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan tổ chức thực hiện Kế hoạch, bảo đảm mục tiêu, nhiệm vụ đề ra./.</p>
<p style="text-align: right;">Cổng TTĐT Bộ VHTTDL</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://tbt.khcnmt-bvhttdl.vn/?feed=rss2&#038;p=7492</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Phê duyệt nội dung và dự toán kinh phí thực hiện dự án xây TCVN năm 2025 – 2026</title>
		<link>https://tbt.khcnmt-bvhttdl.vn/?p=7488</link>
		<comments>https://tbt.khcnmt-bvhttdl.vn/?p=7488#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 02 Jan 2025 08:29:34 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Banbt1</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tin Khoa học-Công nghệ-Môi trường]]></category>
		<category><![CDATA[Văn bản pháp luật]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://tbt-mocst.vn/?p=7488</guid>
		<description><![CDATA[Ngày 30 tháng 12 năm 2024, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Quyết định số 4266/QĐ-BVHTTDL phê duyệt nội dung và dự toán kinh phí thực hiện dự án xây dựng tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) năm 2025 – 2026. Theo đó, bắt [...]]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p>Ngày 30 tháng 12 năm 2024, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành Quyết định số 4266/QĐ-BVHTTDL phê duyệt nội dung và dự toán kinh phí thực hiện dự án xây dựng tiêu chuẩn quốc gia (TCVN) năm 2025 – 2026. Theo đó, bắt đầu triển khai 06 dự án xây dựng 10 TCVN thuộc các lĩnh vực di sản văn hóa, điện ảnh, thể thao và du lịch với tổng kinh phí 3.040.000.000 đồng, kinh phí năm 2025 là 1.610.000.000 đồng.</p>
<p><a href="http://tbt-mocst.vn/tbtbvh/uploads/QD-phe-duyet-noi-dung-va-kinh-phi-du-an-TCVN-2025.2026_signed.pdf">Toàn văn Quyết đinh &gt;&gt;&gt;</a></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://tbt.khcnmt-bvhttdl.vn/?feed=rss2&#038;p=7488</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Thực trạng rác thải nhựa trên đại dương do sự phát triển du lịch</title>
		<link>https://tbt.khcnmt-bvhttdl.vn/?p=7116</link>
		<comments>https://tbt.khcnmt-bvhttdl.vn/?p=7116#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 11 Aug 2024 06:12:50 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Banbt1</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tin Khoa học-Công nghệ-Môi trường]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://tbt-mocst.vn/?p=7116</guid>
		<description><![CDATA[Du lịch biển là một trong những loại hình du lịch phổ biến nhất trên thế giới, thu hút số lượng lớn du khách hàng năm, mang lại nguồn thu đáng kể, tuy nhiên thực trạng rác thải nhựa báo động do hoạt động du lịch cũng đang là vấn [...]]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p>Du lịch biển là một trong những loại hình du lịch phổ biến nhất trên thế giới, thu hút số lượng lớn du khách hàng năm, mang lại nguồn thu đáng kể, tuy nhiên thực trạng rác thải nhựa báo động do hoạt động du lịch cũng đang là vấn đề nhức nhối trên thế giới.</p>
<p><b><i>Thực trạng rác thải nhựa đến từ hoạt động du lịch</i></b></p>
<p>Theo Tổ chức Du lịch Thế giới (UNWTO), khoảng 50% du khách toàn cầu lựa chọn các điểm đến biển đảo, và các khu vực này thu hút tới 70% tổng lượng khách du lịch tại một số quốc gia. Ngoài ra, du lịch tàu biển cũng là một phân khúc quan trọng trong du lịch biển. Từ năm 2013 đến 2018, số lượng khách du lịch tàu biển toàn cầu tăng từ 21,31 triệu lượt lên 28,52 triệu lượt, cho thấy sự phát triển đáng kể của loại hình du lịch này.</p>
<p>Số lượng khách du lịch toàn cầu năm 2023 đạt trên 10 tỷ người, trong đó có sự đóng góp đặc biệt tại các khu du lịch biển. Tuy nhiên cũng từ đây hàng tấn rác thải nhựa phát sinh. Bởi khách du lịch thường có xu hướng sử dụng sản phẩm từ nhựa do tính tiện dụng, giá thành rẻ, đặc biệt là các sản phẩm nhựa dùng một lần như chai nhựa, ống hút, bàn chải, lượt, mũ chụp tóc, hộp xốp, ni long…Các cơ sở cung cấp dịch vụ cũng thường lựa chọn dùng sản phẩm nhựa để tối đa lợi nhuận mà không tính đến hậu quả lâu dài để lại,</p>
<p>Theo Tổ chức Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên (WWF), mỗi năm có khoảng 19 đến 23 triệu tấn rác thải nhựa đổ ra biển, trong đó phần lớn là sản phẩm nhựa dùng một lần. Tại Việt Nam, các hoạt động du lịch ảnh hưởng từ 20-30% đến môi trường sinh thái và cảnh quan tự nhiên của biển, góp phần vào ô nhiễm rác thải nhựa. Theo số liệu phân tích của Viện Nghiên cứu Phát triển Du lịch, mỗi khách du lịch lưu trú tạo ra lượng rác thải trung bình khoảng 1,2 kg/ngày đêm, trong khi khách du lịch không lưu trú thải ra khoảng 0,5 kg/ngày đêm.</p>
<p>Các điểm nóng ô nhiễm rác thải nhựa do du lịch trên thế giới hiện nay phải kể đến đó là: Ở Đông Nam Á, các quốc gia như Thái Lan, Indonesia, và Philippines chịu áp lực lớn từ việc quá tải lượng khách du lịch quốc tế. Địa Trung Hải, các điểm đến như Hy Lạp, Ý và Tây Ban Nha đang phải đối mặt với ô nhiễm nhựa nghiêm trọng. Quần đảo Thái Bình Dương, các đảo nhỏ không có khả năng xử lý rác thải du lịch đang trở thành bãi rác nhựa của thế giới.</p>
<p>Nguyên nhân chính dẫn đến thực trạng đáng tiếc này đầu tiên phải kể đến việc phát triển du lịch không bền vững. Các khu du lịch tại nhiều quốc gia không kiểm soát được lượng khách và không đầu tư vào hạ tầng xử lý rác thải.</p>
<p>Ý thức kém của du khách, du khách thường xả rác bừa bãi và sử dụng đồ nhựa dùng một lần. Thiếu quản lý và chính sách cũng là thực trạng khi nhiều địa phương không có hệ thống thu gom, tái chế rác thải nhựa đạt tiêu chuẩn. Thay vào đó xử dụng hình thức xử lý rác thải nhựa thô sơ như chôn, đốt…gây nguy hại hơn đến môi trường. Với giá thành rẻ, tiện lợi nhiều khách sạn, nhà hàng ưu tiên gia tăng sử dụng đồ nhựa trong dịch vụ du lịch.</p>
<p><b><i>Ảnh hưởng của rác thải nhựa đến đại dương trên thế giới</i></b></p>
<p><i>Ảnh hưởng đến hệ sinh thái biển</i>: Rác thải nhựa tổn hại cho động vật biển, báo cáo của tổ chức Quốc tế về Bảo tồn Thiên nhiên cho biết có khoảng 100.000 động vật biển (rùa, cá voi, cá heo) chết mỗi năm do nuốt phải rác thải nhựa hoặc bị mắc kẹt trong lưới nhựa. Chim biển cũng bị ảnh hưởng nghiêm trọng khi nghiên cứu cho thấy 90% chim biển đã ăn phải nhựa. Việc nuốt phải rác thải nhựa đã được ghi nhận với tỷ lệ cao đến 31% ở một số loài, trong đó có 46 loài thuộc Bộ Cá voi.</p>
<p>Không chỉ gây hại tới các loại động vật biển, mà rác thải nhựa còn làm tăng khả năng tích tụ vi nhựa trong chuỗi thức ăn. Rác thải nhựa phân hủy thành vi nhựa (hạt nhỏ &lt; 5mm), xâm nhập vào sinh vật phù du, cá và các động vật biển khác, cuối cùng đi vào chuỗi thức ăn của con người. Vi nhựa đã được phát hiện trong 60% loài cá thương mại.</p>
<p><i>Suy giảm chất lượng môi trường biển</i>: Các chất độc hại từ nhựa, như BPA và phthalates, rò rỉ vào nước biển, gây ô nhiễm môi trường nước và môi sống của sinh vật biển. Rác thải nhựa, đặc biệt là túi nhựa và màng nilon, làm giảm khả năng trao đổi khí của nước biển, ảnh hưởng đến nhiệt độ và dòng chảy đại dương.</p>
<p><i>Gây hại cho các rạn san hô</i>: Rác thải nhựa bám vào các rạn san hô, làm gián đoạn quang hợp và hô hấp của san hô, từ đó gây chết các rạn san hô. Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến hàng nghìn loài sinh vật sống phụ thuộc vào hệ sinh thái này.</p>
<p><i>Ảnh hưởng đến khí hậu toàn cầu</i>: Rác thải nhựa thải ra khí methane và ethylene khi tiếp xúc với ánh sáng mặt trời, góp phần làm gia tăng biến đổi khí hậu.</p>
<p><i>Tác động lâu dài</i>: Nhựa mất hàng trăm năm để phân hủy hoàn toàn, dẫn đến sự tích tụ rác thải nhựa trong các đại dương. Hiện nay, có ít nhất 5 “vòng xoáy rác thải nhựa” lớn trên các đại dương, nổi bật là “Great Pacific Garbage Patch” (Vòng rác thải Thái Bình Dương), với diện tích khoảng 1,6 triệu km² (gấp 3 lần diện tích Việt Nam).</p>
<p><b><i>Ảnh hưởng của rác thải nhựa tới sự phát triển du lịch biển</i></b></p>
<p>Rác thải nhựa đã trở thành một trong những nguyên nhân chính làm suy giảm chất lượng các điểm đến du lịch biển. Rác thải nhựa cũng là nguyên nhân khiến du lịch biển không thể phát triển bền vững. Những ảnh hưởng cụ thể có thể kể đến như:</p>
<p><i>Gây mất mỹ quan và giảm sức hút của điểm đến</i>: Bãi biển ngập rác không thể là một hình ảnh thu hút. Bãi biển bị ô nhiễm rác thải nhựa (chai lọ, túi nilon, ống hút) làm mất đi vẻ đẹp tự nhiên, khiến khách du lịch không muốn quay lại. Theo khảo sát của UNWTO, 85% du khách cho biết họ ưu tiên các điểm đến sạch sẽ và không có rác thải.</p>
<p>Tác động đến trải nghiệm du lịch: Khách du lịch cảm thấy khó chịu khi phải đối mặt với rác thải trôi nổi trên biển hoặc lẫn vào cát khi tắm biển. Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến đánh giá của du khách trên các nền tảng trực tuyến, làm giảm danh tiếng của điểm đến.</p>
<p><i>Ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế du lịch</i>: Các điểm đến biển bị ô nhiễm rác thải nhựa thường ghi nhận lượng khách giảm đáng kể, dẫn đến suy giảm doanh thu từ dịch vụ lưu trú, ăn uống và các hoạt động vui chơi giải trí.</p>
<p>Tăng chi phí xử lý rác thải: Chính quyền địa phương và doanh nghiệp phải chi hàng triệu USD mỗi năm để dọn sạch bãi biển. Ví dụ: Indonesia chi khoảng 1 tỷ USD/năm để xử lý rác thải biển. Maldives phải chiếm tới 30% ngân sách ngành du lịch để giải quyết ô nhiễm rác thải nhựa.</p>
<p><i>Hậu quả kinh tế</i>: Ô nhiễm rác thải nhựa khiến các bãi biển, khu vực lặn biển mất đi vẻ đẹp tự nhiên, làm giảm sức hút đối với du khách. Các quốc gia ven biển chi hàng tỷ USD mỗi năm để dọn dẹp rác thải nhựa. Không chỉ ngành du lịch, rác thải nhựa làm hư hại lưới và ngư cụ, làm giảm năng suất đánh bắt ảnh hưởng đến ngành đánh bắt cá. Bên cạnh đó nhiều loài cá bị nhiễm vi nhựa không còn giá trị thương mại.</p>
<p><i>Ảnh hưởng đến hệ sinh thái biển – nền tảng của du lịch: </i>Rác thải nhựa bám vào các rạn san hô, làm chết san hô và giảm đa dạng sinh học, ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động lặn biển – một dịch vụ quan trọng tại các điểm đến biển.<i> </i>Hình ảnh động vật biển chết do nuốt phải nhựa ảnh hưởng đến nhận thức du khách, làm giảm sự yêu thích với các hoạt động du lịch liên quan đến thiên nhiên.<i></i></p>
<p><i>Mất cơ hội phát triển du lịch bền vững: </i>Các điểm đến biển bị ô nhiễm khó có thể đạt các chứng nhận du lịch xanh, dẫn đến mất lợi thế cạnh tranh trong việc thu hút du khách có ý thức bảo vệ môi trường.<i> </i>Các quốc gia như Maldives, Thái Lan đã phải đóng cửa nhiều hòn đảo du lịch nổi tiếng (như Maya Bay, Koh Samet) để khôi phục môi trường sau ô nhiễm.<i></i></p>
<p><i>Ảnh hưởng đến hình ảnh quốc gia và khu vực</i>: ô nhiễm rác thải khiến điểm đếm bị giảm thiện cảm từ du khách quốc tế. Các điểm đến bị ô nhiễm nhựa thường được truyền thông nhắc đến với hình ảnh tiêu cực, ảnh hưởng đến uy tín quốc gia.<i> </i>Ví dụ: Các bãi biển tại Bali (Indonesia) từng được du khách quốc tế gọi là “đảo rác” do lượng lớn rác thải nhựa tràn ngập.<i></i></p>
<p><i>Giảm sức hấp dẫn đầu tư</i>:<i> </i>Ô nhiễm nhựa làm giảm cơ hội đầu tư vào các dự án phát triển du lịch cao cấp hoặc khu nghỉ dưỡng sinh thái.</p>
<p><b>Giải pháp giảm rác thải nhựa từ hoạt động du lịch biển</b></p>
<p>1. Áp dụng mô hình du lịch bền vững<b>: </b>Giảm sử dụng nhựa một lần tại các điểm du lịch. Ban hành quy định cấm hoặc hạn chế sử dụng nhựa dùng một lần tại các khu du lịch, resort, và nhà hàng.<b> </b>Khuyến khích sử dụng các sản phẩm thay thế như túi giấy, ống hút tre, chai nước tái sử dụng.<b></b></p>
<p>Phát triển các mô hình du lịch xanh:<b> </b>Kết hợp hoạt động dọn rác biển vào các tour du lịch.<b> </b>Xây dựng các khu du lịch đạt chứng nhận sinh thái (eco-friendly).<b></b></p>
<p>2. Nâng cao ý thức cộng đồng và du khách<b></b></p>
<p>Tổ chức các chiến dịch truyền thông, chương trình giáo dục môi trường để nâng cao nhận thức về tác động của rác thải nhựa đối với đại dương.<b> </b>Hướng dẫn du khách cách giảm thiểu rác thải nhựa và phân loại rác đúng cách.<b> </b>Khuyến khích du khách tham gia hoạt động bảo vệ môi trường. Cung cấp túi thu gom rác cho du khách khi tham quan.<b> </b>Tặng quà lưu niệm thân thiện với môi trường cho du khách tham gia các chương trình bảo vệ đại dương.<b></b></p>
<p>3. Quản lý và xử lý rác thải hiệu quả</p>
<p>Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thu gom và tái chế. Đầu tư vào hệ thống quản lý rác thải nhựa tại các khu vực du lịch ven biển.<b> </b>Tăng cường công nghệ tái chế rác nhựa để giảm lượng rác đổ ra đại dương.<b> </b>Hợp tác công – tư, kêu<b> </b>gọi các công ty du lịch, khách sạn hợp tác với chính quyền địa phương để xử lý rác thải.<b> </b>Thúc đẩy các doanh nghiệp du lịch đầu tư vào giải pháp tái chế nhựa.<b> </b></p>
<p>4. Xây dựng chính sách và quy định cụ thể về thu gom, xử lý rác thải<b>. </b>Quy định nghiêm ngặt tại các điểm du lịch. Phạt nặng các hành vi xả rác nhựa ra biển.<b> </b>Ban hành các tiêu chuẩn bền vững cho các doanh nghiệp du lịch.</p>
<p>Khuyến khich doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức tham gia đầu tư vào việc xử ly, thu gom rác thải thông qua việc miễn thuế hoặc giảm phí cấp phép cho các doanh nghiệp du lịch áp dụng mô hình thân thiện với môi trường. Hỗ trợ tài chính cho các dự án phát triển du lịch không rác thải.</p>
<p>5. Sử dụng công nghệ và đổi mới sáng tạo</p>
<p>Ứng dụng công nghệ vào việc giám sát: Triển khai hệ thống cảm biến theo dõi lượng rác tại các bãi biển và vùng ven biển. Sử dụng robot và thiết bị tự động để thu gom rác nhựa trên bề mặt đại dương. Phát triển vật liệu thay thế nhựa: Khuyến khích nghiên cứu và sản xuất các vật liệu thân thiện với môi trường như nhựa sinh học, bao bì từ tảo biển.</p>
<p>Rác thải nhựa không chỉ gây thiệt hại về môi trường mà còn trực tiếp đe dọa sự phát triển của ngành du lịch biển – một ngành kinh tế quan trọng tại nhiều quốc gia. Theo Báo cáo Các xu hướng kinh tế du lịch thế giới vừa được công bố tại Hội nghị thượng đỉnh du lịch Fragrant Hills 2024, năm nay, doanh thu du lịch được dự báo sẽ đạt 5.800 tỷ USD, số lượt du khách đến trên toàn thế giới sẽ đạt 13.579 tỷ lượt, phục hồi 103,9% so với năm 2019. Báo cáo từ Tổ chức Du lịch Liên hợp quốc UN Tourism cũng đã thông báo trong số 43 quốc gia công bố số liệu doanh thu, 35 nước đã vượt qua mức doanh thu của năm 2019, thậm chí đạt mức tăng trưởng vượt hai chữ số sau khi điều chỉnh lạm phát. Với nguồn lợi lớn thu được từ sự phát triển mạnh mẽ của ngành du lịch, trong đó có đến hơn 50% đến từ hoạt động du lịch biển. Nếu các quốc gia không sớm có biện pháp xử lý và những giải pháp mạnh mẽ để ngăn chặn rác thải nhựa, thì không lâu nữa, ngành du lịch sẽ chứng kiến sự tụt dốc, không thể phát triên. Nghiêm trọng hơn nữa, khi môi trường và hệ sinh thái bị ảnh hưởng thì khả năng phục hồi thường kéo dài nhiều năm và tốn kém nhiều chi phí.  Trong nhiều trường hợp là không thể phục hồi. Chính bởi tính nghiêm trọng và sử cần thiết này, để có thể khai thác tối đa nguồn lợi từ thiên nhiên, cụ thể ở đây là đại dương, chúng ta cần nhìn nhận lại và chung tay triển khai cứu lấy đại dương của chúng ta, cũng là điểm đến hàng đầu trong xu hướng lựa chọn sản phẩm du lịch của du khách trên toàn thế giới.</p>
<p>NLH</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://tbt.khcnmt-bvhttdl.vn/?feed=rss2&#038;p=7116</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Hội nghị tập huấn các điểm TBT tại Việt Nam năm 2024</title>
		<link>https://tbt.khcnmt-bvhttdl.vn/?p=7072</link>
		<comments>https://tbt.khcnmt-bvhttdl.vn/?p=7072#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 04 Aug 2024 05:32:58 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Banbt1</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tin Khoa học-Công nghệ-Môi trường]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://tbt-mocst.vn/?p=7072</guid>
		<description><![CDATA[Ngày 02 tháng 8 tại thành phố Đà Nẵng, Văn phòng TBT Việt Nam đã tổ chức Hội nghị tập huấn cho các điểm TBT năm 2024. Hội nghị dành cho các đối tượng là văn phòng TBT cấp Bộ và địa phương nhằm kịp thời nắm bắt hoạt động [...]]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p>Ngày 02 tháng 8 tại thành phố Đà Nẵng, Văn phòng TBT Việt Nam đã tổ chức Hội nghị tập huấn cho các điểm TBT năm 2024.</p>
<p>Hội nghị dành cho các đối tượng là văn phòng TBT cấp Bộ và địa phương nhằm kịp thời nắm bắt hoạt động xuất nhập khẩu của doanh nghiệp, cung và hỗ trợ thông tin về TBT cho doanh nghiệp tạo thuận lợi cho quá trình xuất khẩu.</p>
<p>Tham dự Hội nghị có ông Hà Minh Hiệp – Quyền Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia, bà Tôn Nữ Thục Uyên – Phó giám đốc Phụ trách Văn phòng TBT Việt Nam cùng toàn thể cán bộ, chuyên viên Văn phòng TBT Việt Nam và đại diện các điểm TBT cấp Bộ, các điểm TBT địa phương trong mạng lưới TBT Việt Nam.</p>
<p>Phát biểu khai mạc tại Hội nghị, ông Hà Minh Hiệp – Quyền Chủ tịch Ủy ban Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng Quốc gia nhấn mạnh tầm quan trọng của Mạng lưới TBT Việt Nam đối với thực thi cam kết TBT tại Việt Nam, đồng thời ông cũng khẳng định việc nắm vững các quy định, hiểu đầy đủ nội dung và áp dụng để triển khai thực hiện là rất quan trọng. Nhiệm vụ của Văn phòng TBT Việt Nam và các điểm TBT của các bộ ngành, địa phương là thông báo và hỏi đáp về tiêu chuẩn đo lường chất lượng (TCĐLCL), vì vậy các cơ quan cần có những đề xuất nội dung phù hợp liên quan tới nội dung minh bạch hóa trong quá trình sửa đổi Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn Kỹ thuật và Luật chất lượng sản phẩm hàng hóa, nhằm nêu bật vai trò của Mạng lưới TBT. Đồng thời yêu cầu hoạt động TBT không chỉ tập trung vào cung cấp thông tin mà cần gắn với các đơn vị chuyên môn khác trong lĩnh vực tiêu chuẩn, đo lường, chất lượng. Ông Hà Minh Hiệp mong muốn thông qua Hội nghị tập huấn, các điểm TBT cấp bộ, các điểm TBT địa phương nắm rõ và thúc đẩy triển khai áp dụng Thực hành Quy định tốt – GRP (Good Regulatory Practice) nhằm đánh giá hiệu quả của các văn bản quy phạm pháp luật tại Việt Nam.</p>
<p>Tại hội nghị tập huấn, bà Tôn Nữ Thục Uyên – Phó Giám đốc Phụ trách Văn phòng TBT Việt Nam đã Báo cáo tình hình thực thi cam kết TBT trong WTO và FTAs của Việt Nam trong năm 2023 và 6 tháng đầu năm 2024. Đồng thời nêu rõ việc phối hợp thực hiện cam kết TBT trong mạng lưới TBT Việt Nam là rất quan trọng, trong đó có thực hiện Quyết định số 46/2017/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành các quy chế tổ chức và hoạt động của Mạng lưới TBT Việt Nam.</p>
<p>Bên cạnh đó, tại hội nghị tập huấn, các đại biểu còn được tìm hiểu về các Hiệp định Thương mại tự do, các hướng dẫn thực hành qua các tham luận trình bày về cam kết TBT trong các Hiệp định Thương mại tự do (FTAs); hướng dẫn áp dụng Thực hành Quy định tốt (GRP) trong xây dựng, ban hành và áp dụng các biện pháp TBT; trình bày về hệ thống cảnh báo ePing và giới thiệu các chức năng mới cập nhật của hệ thống. Hiểu sâu hơn về các cam kết về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong các FTA là lá chắn bảo vệ đắc lực cho các sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam, giúp ngăn chặn hành vi làm giả, hàng nhái, bảo vệ đầu tư vào nghiên cứu và phát triển, thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Bên cạnh đó, để đảm bảo rằng khi rào cản thuế quan được dỡ bỏ dần, hàng rào phi thuế quan không được tạo ra một cách vô lý nhằm cản trở thương mại, gây mất bình đẳng và phân biệt đối xử, các cam kết về hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT) cùng với cam kết khác đã được các nước đưa vào khung đàm phán với mục đích dỡ bỏ những rào cản kỹ thuật cản trở thương mại quá mức cần thiết. Hiệp định TBT là một trong các Hiệp định quan trọng của WTO và Chương TBT cũng trở thành một phần không thể thiếu của các Hiệp định thương mại tự do giữa các quốc gia . Thực thi có hiệu quả các FTA, nhất là các FTA thế hệ mới đã tạo ra cơ hội mở rộng, đa dạng hóa thị trường với mức ưu đãi cao, tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng, mạng lưới sản xuất toàn cầu; góp phần tích cực vào quá trình đổi mới đồng bộ và toàn diện, khơi dậy tiềm năng của đất nước và sức sáng tạo của các tầng lớp nhân dân, cải thiện đời sống nhân dân, nâng cao trình độ phát triển, giảm dần tỉ trọng gia công lắp ráp của nền kinh tế.</p>
<p>Hay như việc Thực hành Quy định tốt (GRP) nhằm đảm bảo rằng kết quả của các chính sách/quy định được ban hành hiệu quả, minh bạch, toàn diện và bền vững. GRP đề cập đến việc sử dụng các công cụ như đánh giá tác động của quy định, sự tham gia của các bên liên quan và đánh giá hậu kỳ để cải thiện chất lượng của môi trường pháp lý cho doanh nghiệp, người dân và xã hội. Các công cụ GRP rất hữu ích để xác định và xem xét các chính sách/quy định nào là cần thiết để đạt được các kết quả nhất định, cuối cùng là làm cho việc tuân thủ quy định trở nên đơn giản và có ý nghĩa nhất có thể. Đã có rất nhiêu nỗ lực đa phương được thực hiện liên quan tới GRP như các hoạt động của APEC (Diễn đàn hợp tác Kinh tế Châu Á – Thái Bình Dương, ASEAN (Hiệp hội các nước Đông Nam Á), Chương trình Cải cách quy định của OECD (Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế) và Chương trình quy định tốt hơn cho tăng trưởng của Worl Bank (Ngân hàng Thế giới).</p>
<p>Tại hội nghị, các đại biểu từ các điểm TBT cấp bộ và địa phương cũng đã trao đổi, thảo luận và bày tỏ quan điểm về những khó khăn, vướng mắc khi thực hiện nhiệm vụ thông báo và hỏi đáp về TCĐLCL tại địa phương để tìm ra hướng giải quyết, khắc phục. Trong đó nổi cộm và vướng mắc về nhân lực, một chuyên viên thường phải kiêm nhiệm nhiều vai trò, không có cán bộ chuyên trách tại cơ Bộ cũng như địa phương thực hiện công tác TBT. Bên cạnh đó, công tác đào tạo tập huấn cho cán bộ, chuyên viên thưc hiện công tác TBT chưa đồng bộ và thường xuyên dẫn đến việc cập nhật thông tin cũng như đưa ra các giải đáp thắc mắc cho doanh nghiệp còn chậm, chưa thực sự hiệu quả. Nhiều địa phương đề nghị được cấp nguồn đào tạo công tác TBT cũng như có cán bộ chuyên trách thực hiện việc giải đáp của văn phòng TBT địa phương, đặc biệt đối với các ngành nghề, lĩnh vực liên quan nhiều tới sản phẩm xuất khẩu ví dụ như nông sản, hải sản và may mặc.</p>
<p>Trong khuôn khổ Hội nghị tập huấn, chiều cùng ngày, Văn phòng TBT Việt Nam cùng đại biểu các điểm TBT cấp Bộ, các điểm TBT địa phương đã đến thăm quan và làm việc với Tổng công ty cổ phần dệt may Hòa Thọ trên địa bàn thành phố Đà Nẵng. Tại buổi làm việc, bà Tôn Nữ Thục Uyên đã giới thiệu với doanh nghiệp về hoạt động của Văn phòng TBT Việt Nam và Mạng lưới TBT Việt Nam, đồng thời trao đổi với doanh nghiệp về khả năng hỗ trợ thông tin về TBT trong lĩnh vực dệt may cho doanh nghiệp. Qua buổi làm việc đại biểu tham dự đã nắm rõ hơn tình hình và những khó khăn, vướng mắc mà doanh nghiệp đang gặp phải trong việc xuất, nhập khẩu hàng hóa. Đồng thời cũng có những trao đổi cụ thể hơn về những rào cản thương mại mà các doanh nghiệp đã, đang và sẽ phải đối mặt khi xuất, nhập khẩu hàng hóa. Doanh nghiệp Hòa Thọ bày tỏ cám ơn tới những thông tin mà Văn phòng TBT Việt Nam cung cấp và cho biết doanh nghiệp đã có thêm một kênh thông tin cũng như trao đổi nhằm hỗ trợ doanh nghiệp trong quá trình sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu đi các thị trường quốc tế.</p>
<p>NLH</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://tbt.khcnmt-bvhttdl.vn/?feed=rss2&#038;p=7072</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Biến đổi khí hậu và những tác động đến ngành du lịch toàn cầu</title>
		<link>https://tbt.khcnmt-bvhttdl.vn/?p=7070</link>
		<comments>https://tbt.khcnmt-bvhttdl.vn/?p=7070#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 02 Aug 2024 05:31:52 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Banbt1</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tin Khoa học-Công nghệ-Môi trường]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://tbt-mocst.vn/?p=7070</guid>
		<description><![CDATA[Biến đổi khí hậu nhiều năm nay đã trở thành vấn để thách thức tới moi mặt của đời sống, kinh tế, xã hội cũng như moi lĩnh vực, ngành nghề trong đó có ngành du lịch. Biến đổi khí hậu ảnh hưởng sâu sắc đến ngành du lịch toàn [...]]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p>Biến đổi khí hậu nhiều năm nay đã trở thành vấn để thách thức tới moi mặt của đời sống, kinh tế, xã hội cũng như moi lĩnh vực, ngành nghề trong đó có ngành du lịch.</p>
<p>Biến đổi khí hậu ảnh hưởng sâu sắc đến ngành du lịch toàn cầu, làm thay đổi môi trường, cảnh quan tại các điểm đến, thay đổi hành vi của du khách từ đó tác động đến kinh tế của cộng đồng địa phương. Du lịch rất nhạy cảm trước những tác động của biến đổi khí hậu, nó có thể làm thay đổi yếu tố Cung và Cầu. Ở chiều ngược lại, hoạt động du lịch cũng góp phần vào hiện tượng biến đổi khí hậu, ước tính gây ra khoảng 5% lượng khí thải CO2 toàn cầu. Với tầm quan trọng của du lịch trong nền kinh tế thế giới, chiếm khoảng 10% GDP toàn cầu và tạo ra hàng triệu việc làm, việc hiểu rõ và ứng phó với tác động của biến đổi khí hậu đối với ngành du lịch trở nên cấp thiết.</p>
<p><b><i>Nguyên nhân và xu hướng chính của biến đổi khí hậu:</i></b><b><i></i></b></p>
<p>Biến đổi khí hậu xảy ra do sự gia tăng nhiệt độ toàn cầu, chủ yếu từ các hoạt động của con người như phát thải khí nhà kính, phá rừng và tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch. Theo các nhà khoa học trung bình mỗi năm nhiệt độ toàn cầu đã tăng khoảng 1,1°C so với thời kỳ tiền công nghiệp và dự kiến có thể tăng thêm 1,5-2°C vào cuối thế kỷ này. Biến đổi khí hậu cũng khiến mực nước biển dâng cao, ước tính nước biển tăng khoảng 3,3 mm mỗi năm do băng tan và nhiệt độ nước biển tăng. Số lượng và cường độ của các sự kiện thời tiết cực đoan như bão, lũ lụt, và hạn hán gia tăng cũng xuất phát từ biến đổi khí hậu. Các hệ sinh thái tự nhiên bị ảnh hưởng, đặc biệt là rừng, san hô, và các khu vực núi cao sự suy giảm đa dạng sinh học là thực trạng nhìn thấy rõ.</p>
<p><b><i>Tác động của biến đổi khí hậu đến du lịch toàn cầu</i></b></p>
<p>Vào thời điểm du lịch hè, hầu hết các quốc gia phải vật lộn để đối phó với nhu cầu làm mát ngày càng tăng khi khách du lịch tìm cách trốn khỏi mức nhiệt độ nóng như thiêu như đốt. Nhu cầu ngày càng cao đối với các khu vực gắn điều hòa cũng có khả năng khiến mức tiêu thụ năng lượng tăng mạnh, tạo áp lực cho lưới điện địa phương và tăng lượng phát thải. Những năm gần đây, thời tiết nóng bức quá giợi hạn bình thường ở Châu Âu và Khu vực Địa Trung Hải làm số lượng khách ở những điểm đến này giảm sút đáng kể.<b><i> </i></b>Nắng nóng làm ảnh hưởng đến tâm lý của khách du lịch, sự thay đổi này có thể sẽ tác động đáng kể đến các nền kinh tế phụ thuộc nhiều vào thu nhập từ du lịch. Ngoài ra nước biển dâng, lanh hoặc nóng quá mức bình thường còn tá động tới hệ sinh thái – những tài nguyên quan trọng quyết định sức hấp dẫn của điểm đến. Những tác động của biến đối khí hậu tới ngành du lịch có thể nhìn thấy rõ qua những ảnh hưởng sau:</p>
<p><i>Ảnh hưởng đến các điểm đến</i><i> </i><i>vùng ven biển và đảo</i>: Các điểm đến nổi tiếng như Maldives, Venice, và một số đảo Thái Bình Dương đối mặt với nguy cơ bị nhấn chìm hoặc mất diện tích đất do nước biển dâng. Các rạn san hô như Great Barrier Reef (Úc) đang bị tẩy trắng do nhiệt độ nước biển tăng, làm giảm sức hút của du lịch lặn biển. Các khu du lịch trượt tuyết tại dãy Alps, Rockies và Himalaya đối mặt với nguy cơ mất đi các điều kiện tự nhiên cần thiết cho hoạt động này do nhiệt độ tăng khiến băng tuyết tan chảy. Sự suy giảm đa dạng sinh học làm ảnh hưởng đến các khu vực du lịch sinh thái tại vùng núi cao. Nhiệt độ tăng cao tới mức cực đoan tại các khu vực như Trung Đông, Bắc Phi, và Đông Nam Á khiến du khách tránh đến những nơi này vào mùa nóng, điều này khiến cho các quốc gia này giảm đáng kể số lượng khách du lịch mỗi năm. Các điểm đến phụ thuộc vào nguồn nước như công viên quốc gia ở châu Phi và Ấn Độ bị ảnh hưởng nghiêm trọng do hạn hán. Không chỉ có ảnh hưởng tới môi trường, cảnh quan tự nhiên, biến đổi khí hậu còn tác động xấu tới các di sản văn hóa, các công trình lịch sử như Angkor Wat (Campuchia) và Petra (Jordan) bị đe dọa bởi mưa axit, xói mòn và các hiện tượng thời tiết cực đoan.</p>
<p><i>Ảnh hưởng đến hành vi của du khách</i>: Biến đổi khí hậu làm thay đổi các mùa du lịch truyền thống. Mùa đông ở châu Âu, cụ thể hơn là ở một số điểm trượt tuyết nổi tiếng ngắn hơn, ảnh hưởng đến du lịch trượt tuyết tại đây. Mùa hè ở Trung Đông cực đoan hơn khiến những tháng có thể du lịch tại đây rút ngắn lại. Biến đổi khí hậu khiến khách du lịch ưu tiên lựa chọn những điểm đến và dịch vụ thân thiện với môi trường hơn.</p>
<p><i>Ảnh hưởng đến kinh tế du lịch</i>: Các điểm đến dựa vào tài nguyên tự nhiên  như khu vực du lịch biển, các khu sinh thái rừng, các khu trượt tuyết) sẽ chịu tổn thất lớn khi các tài nguyên này bị phá hủy hoặc bị ảnh hưởng không còn được nguyên vẹn.  Ngành du lịch cần đầu tư nhiều hơn vào cơ sở hạ tầng bền vững, công nghệ giảm phát thải, và bảo vệ các tài nguyên thiên nhiên vì thế chi phi vận hành tăng.</p>
<p>Khi số lượng khách du lịch giảm, nhiều khu du lịch mất hoặc phải đóng cửa thì cũng nghĩa với hàng triệu người phụ thuộc vào du lịch có nguy cơ mất việc do sự suy giảm của các điểm đến quan trọng.</p>
<p><b><i>Triển vọng và giải pháp cho ngành du lịch trước biến đổi khí hậu</i></b></p>
<p>Yếu tố then chốt phải nhắc đến đầu tiên đó là cần ưu tiên phát triển du lịch bền vững với việc tôn trọng và bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Dành nguồn kinh phí cho việc phục hồi và bảo vệ những tài nguyên thiên nhiên đã chịu tác động.  Áp dụng các biện pháp giảm phát thải khí nhà kính tại các điểm du lịch. Khuyến khích mọi doanh nghiệp, cơ sở tập trung phát triển và cung cấp dịch vụ “du lịch xanh”. Phát triển các sản phẩm du lịch ít tác động tới môi trường như như du lịch sinh thái, trekking, và nghỉ dưỡng bền vững. Sử dụng năng lượng tái tạo và giảm sử dụng nhựa tại các cơ sở lưu trú.</p>
<p>Tận dụng sự phát triển của khoa học công nghệ, đầu tư ứng dụng công nghệ mới ví dụ như thực tế ảo và thực tế tăng cường để cung cấp  trải nghiệm du lịch trực tuyến để giảm áp lực lên các điểm đến dễ bị tổn thương. Sử dụng công nghệ như AI, cảm biến và drone để giám sát tác động của biến đổi khí hậu lên các điểm du lịch.</p>
<p>Tăng cường hợp tác toàn cầu với chính sách cụ thể, hợp tác giữa các quốc gia và tổ chức quốc tế để bảo vệ các điểm đến có nguy cơ cao bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu. Xây dựng quỹ hỗ trợ các điểm đến du lịch bị ảnh hưởng bởi biến đổi khí hậu. Đưa nhiệm vụ ứng phó với biến đổi khí hậu vào kế hoạch phát triển du lịch quốc gia. Hỗ trợ các doanh nghiệp du lịch chuyển đổi sang mô hình kinh doanh thân thiện với môi trường.</p>
<p>Giáo dục và nâng cao nhận thức, tăng cường đào tạo cho các nhân, tổ chức, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực du lịch về ứng phó với biến đổi khí hậu. Nâng cao ý thức của du khách về tầm quan trọng của việc bảo vệ môi trường và giảm tác động cá nhân đến khí hậu.</p>
<p>Biến đổi khí hậu đang tạo ra những thách thức chưa từng có đối với ngành du lịch toàn cầu, nhưng cũng mở ra cơ hội để ngành này đổi mới và phát triển bền vững. Với việc áp dụng các giải pháp hiệu quả từ cấp độ địa phương đến quốc tế, ngành du lịch có thể thích nghi và đóng góp tích cực vào nỗ lực giảm nhẹ biến đổi khí hậu, bảo vệ các điểm đến quan trọng và đảm bảo lợi ích kinh tế, xã hội cho cộng đồng.</p>
<p>NLH</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://tbt.khcnmt-bvhttdl.vn/?feed=rss2&#038;p=7070</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Vấn đề rác thải tại các điểm đến du lịch ở Việt Nam: Thực trạng, nguyên nhân và giải pháp</title>
		<link>https://tbt.khcnmt-bvhttdl.vn/?p=7068</link>
		<comments>https://tbt.khcnmt-bvhttdl.vn/?p=7068#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 01 Aug 2024 05:30:45 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Banbt1</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tin Khoa học-Công nghệ-Môi trường]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://tbt-mocst.vn/?p=7068</guid>
		<description><![CDATA[Du lịch Việt Nam đang trên đà tăng trưởng với những con số và giải thưởng ấn tượng. Tuy nhiên cùng với tín hiệu mừng này, có một thực trạng tồn tại là rác thải từ hoạt động du lịch tại nhiều điểm đến đang gây ô nhiễm môi trường. [...]]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p>Du lịch Việt Nam đang trên đà tăng trưởng với những con số và giải thưởng ấn tượng. Tuy nhiên cùng với tín hiệu mừng này, có một thực trạng tồn tại là rác thải từ hoạt động du lịch tại nhiều điểm đến đang gây ô nhiễm môi trường.</p>
<p>Du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam, đóng góp lớn vào GDP quốc gia và tạo cơ hội việc làm cho hàng triệu người lao động. Kết quả 6 tháng đầu năm 2024, khách du lịch quốc tế đến Việt Nam tiếp tục tăng trưởng ấn tượng với trên 8,8 triệu lượt, tăng 58,4% so với cùng kỳ năm trước và cao hơn 4,1% so với cùng kỳ năm 2019; khách nội địa đạt 66,5 triệu lượt; tổng thu từ khách du lịch đạt 436,5 nghìn tỷ đồng. Trong phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 6/2024, lĩnh vực du lịch, dịch vụ được đánh giá là một trong 11 điểm sáng trong bức tranh kinh tế &#8211; xã hội 6 tháng đầu năm</p>
<p>Tuy nhiên, cùng với sự phát triển nhanh chóng của ngành du lịch, vấn đề ô nhiễm rác thải tại các điểm đến du lịch đang trở thành một thách thức lớn, đe dọa không chỉ đến môi trường mà còn ảnh hưởng đến sức hút và sự bền vững của ngành.</p>
<p><b>Thực trạng rác thải tại các điểm đến du lịch ở Việt Nam</b><b></b></p>
<p>Tình trạng ô nhiễm tại các bãi biển</p>
<p>Việt Nam sở hữu hơn 3.260 km bờ biển cùng hàng nghìn hòn đảo lớn nhỏ, là điểm đến hấp dẫn cho du khách trong và ngoài nước. Tuy nhiên, nhiều bãi biển nổi tiếng như Vũng Tàu, Nha Trang, Đà Nẵng và Phú Quốc đang đối mặt với vấn đề rác thải tràn lan. Rác thải chủ yếu là nhựa, túi nilon, chai lọ và các vật dụng dùng một lần từ hoạt động du lịch. Năm 2022, tại Phú Quốc, mỗi ngày có khoảng 180 tấn rác thải, trong đó phần lớn là rác thải nhựa. Tình trạng này làm mất đi vẻ đẹp tự nhiên của hòn đảo ngọc. Theo số liệu của Bộ Tài nguyên và Môi trường, mỗi năm có tới khoảng 0,73 triệu tấn rác thải nhựa đổ ra biển. Rác thải nhựa đang là một trong những mối đe dọa lớn nhất đối với môi trường biển và đại dương, ảnh hưởng trực tiếp đến hệ sinh thái biển; phát triển du lịch bền vững; các hoạt động ngư nghiệp và nuôi trồng thủy sản cũng như chất lượng cuộc sống người dân ven biển.</p>
<p>Ô nhiễm tại các khu du lịch núi và sinh thái</p>
<p>Tại các điểm du lịch núi rừng như Sa Pa, Tam Đảo hay Vườn Quốc gia Cúc Phương, rác thải cũng là vấn đề đáng lo ngại. Nhiều du khách thiếu ý thức thường để lại rác khi tổ chức cắm trại, leo núi. Điều này không chỉ làm xấu cảnh quan mà còn ảnh hưởng đến hệ sinh thái tự nhiên khi chai nhựa, hộp xốp..không được thu gom sẽ ngấm vào đất, ảnh hưởng này kéo dài hàng trăm năm sau.</p>
<p>Các đô thị du lịch lớn</p>
<p>Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Hội An và các đô thị du lịch khác đối mặt với lượng rác thải khổng lồ từ hoạt động buôn bán, ẩm thực đường phố và chợ đêm. Rác thải không được thu gom kịp thời làm ô nhiễm đường phố, sông hồ và gây mất mỹ quan đô thị. Nguy hại nhất đó là các dịch vụ du lịch thường sử dụng đồ nhựa dùng một lần bởi tính tiện lợi, giá thành rẻ.</p>
<p><b>Nguyên nhân của vấn đề rác thải tại các điểm du lịch</b></p>
<p>Ý thức bảo vệ môi trường của du khách và người dân còn thấp: Một phần lớn du khách và cả người dân địa phương thiếu ý thức bảo vệ môi trường. Thường xuyên vứt rác bừa bãi sau khi sử dụng, không tuân thủ và cũng không có ý thức vứt rác đúng nơi quy định.</p>
<p>Gia tăng đột biến lượng khách du lịch: Số lượng khách du lịch tăng nhanh trong những năm gần đây khiến hệ thống quản lý rác thải và xử lý rác thải tại nhiều điểm đến bị quá tải. Nhiều điểm đến không đủ hạ tầng để xử lý khối lượng rác thải lớn. Bên cạnh đó nhiều điểm thu gom, xử lý vẫn ứng dụng công nghệ cũ nên hiệu suất không cao.</p>
<p>Sử dụng nhựa dùng một lần tràn lan: Các sản phẩm nhựa dùng một lần như chai nước, túi nilon, ống hút được sử dụng phổ biến trong ngành du lịch do giá thành rẻ và tiện lợi. Tuy nhiên, chúng là nguyên nhân chính gây ô nhiễm môi trường biển và đất liền. Bên cạnh đó, ô nhiễm rác thải nhựa cũng là ô nhiễm để lại tác hại lâu dài và khó xử lý nhất.</p>
<p>Quản lý rác thải chưa hiệu quả: Tại nhiều điểm du lịch, hệ thống thùng rác và phân loại rác chưa được đầu tư đồng bộ. Công tác thu gom và xử lý rác thải chưa được triển khai kịp thời và hiệu quả.</p>
<p>Chưa có chế tài xử phạt mạnh mẽ: Các quy định về bảo vệ môi trường tại các điểm du lịch hiện nay còn thiếu sự nghiêm khắc. Việc xử phạt những hành vi xả rác bừa bãi vẫn còn mang tính hình thức, chưa đủ sức răn đe.</p>
<p><b>Tác động của rác thải đến ngành du lịch</b></p>
<p>Mất mỹ quan và giảm sức hút của điểm đến<b>: </b>Rác thải tràn lan tại các điểm đến làm mất đi vẻ đẹp tự nhiên, khiến khách du lịch có ấn tượng tiêu cực và không muốn quay lại.<b></b></p>
<p>Ô nhiễm môi trường và hệ sinh thái<b>: </b>Rác thải nhựa ảnh hưởng nghiêm trọng đến các hệ sinh thái biển, rừng và sông hồ, làm giảm sự đa dạng sinh học và gây nguy cơ tuyệt chủng cho nhiều loài sinh vật.<b></b></p>
<p>Giảm doanh thu du lịch<b>: </b>Những điểm đến bị ô nhiễm thường ghi nhận lượng khách giảm mạnh, ảnh hưởng trực tiếp đến doanh thu từ dịch vụ du lịch và nền kinh tế địa phương.<b> </b></p>
<p>Ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng<b>: </b>Ô nhiễm rác thải không chỉ tác động đến môi trường mà còn ảnh hưởng đến sức khỏe của người dân và du khách qua các nguồn nước bị ô nhiễm hoặc thực phẩm bị nhiễm vi nhựa.<b></b></p>
<p><b>Giải pháp giảm thiểu rác thải tại các điểm đến du lịch</b></p>
<p>Nâng cao ý thức bảo vệ môi trường<b>: </b>Tăng cường giáo dục và truyền thông về bảo vệ môi trường cho du khách và cộng đồng địa phương.<b> </b>Triển khai các chiến dịch truyền thông sáng tạo như “Không để lại gì ngoài dấu chân”, “Mang về ký ức, đừng mang theo rác”.<b></b></p>
<p>Phát triển hạ tầng quản lý rác thải<b>: </b>Đầu tư vào hệ thống thùng rác phân loại và bố trí thùng rác ở các khu vực thuận tiện.<b> </b>Cải thiện hệ thống thu gom và xử lý rác thải tại các điểm du lịch.<b></b></p>
<p>Giảm sử dụng nhựa một lần<b>: </b>Khuyến khích sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường như túi vải, bình nước tái sử dụng.<b> </b>Ban hành các chính sách cấm hoặc hạn chế sử dụng nhựa dùng một lần tại các khu du lịch.<b></b></p>
<p>Áp dụng các mô hình du lịch xanh<b>:</b> Phát triển các khu du lịch sinh thái với tiêu chí “xanh” từ thiết kế đến vận hành. Khuyến khích các doanh nghiệp du lịch đạt chứng nhận du lịch bền vững.<b></b></p>
<p>Thắt chặt quy định và chế tài xử phạt<b>: </b>Áp dụng mức phạt nghiêm khắc với hành vi xả rác tại các điểm du lịch.<b> </b>Tăng cường kiểm tra và giám sát việc thực thi các quy định về bảo vệ môi trường.<b></b></p>
<p>Hợp tác công – tư trong bảo vệ môi trường<b>: </b>Doanh nghiệp du lịch và chính quyền địa phương cần phối hợp để tài trợ và triển khai các sáng kiến bảo vệ môi trường.<b> </b>Khuyến khích cộng đồng du lịch tham gia vào các hoạt động dọn dẹp, tái chế rác thải.</p>
<p>Vấn đề rác thải tại các điểm đến du lịch ở Việt Nam không chỉ là một thách thức về môi trường mà còn ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển bền vững của ngành du lịch. Giải quyết vấn đề này đòi hỏi sự phối hợp giữa chính quyền, doanh nghiệp, cộng đồng địa phương và du khách. Chỉ khi có những hành động đồng bộ và mạnh mẽ, chúng ta mới có thể bảo vệ vẻ đẹp tự nhiên của các điểm đến du lịch, đảm bảo ngành du lịch phát triển bền vững trong tương lai./.</p>
<p>NLH</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://tbt.khcnmt-bvhttdl.vn/?feed=rss2&#038;p=7068</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Biểu diễn, phổ biến tác phẩm nghệ thuật trên không gian mạng</title>
		<link>https://tbt.khcnmt-bvhttdl.vn/?p=5946</link>
		<comments>https://tbt.khcnmt-bvhttdl.vn/?p=5946#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 26 Dec 2023 08:57:06 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Banbt1</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tin Khoa học-Công nghệ-Môi trường]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://tbt-mocst.vn/?p=5946</guid>
		<description><![CDATA[Công nghệ truyền thông số đổi mới căn bản phương thức truyền thông, phổ biến các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật đến nhân dân. Các giá trị văn hóa trong sản phẩm văn hóa dạng kỹ thuật số, đa phương tiện sẽ được chuyển tải đến công chúng thông [...]]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;">Công nghệ truyền thông số đổi mới căn bản phương thức truyền thông, phổ biến các sản phẩm văn hóa, nghệ thuật đến nhân dân. Các giá trị văn hóa trong sản phẩm văn hóa dạng kỹ thuật số, đa phương tiện sẽ được chuyển tải đến công chúng thông qua internet, mạng viễn thông, qua vệ tinh, qua mạng nội bộ&#8230;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;">Công nghệ số hình thành kho dữ liệu đồ sộ trên không gian mạng về các sản phẩm văn hóa, loại hình nghệ thuật dưới hình thức ký tự (chữ viết, có thể nhiều ngôn ngữ), âm thanh, hình ảnh tĩnh, hình ảnh động (video/mô phỏng 2D, 3D, 4D&#8230;). Công nghệ chia sẻ, kết nối các dữ liệu lớn có thể kết nối các chủ thể trong chuỗi cung ứng và sử dụng sản phẩm, dịch vụ văn hóa đảm bảo hiệu quả, tiết kiệm cho nhân dân. Việc lưu trữ các tài sản văn hóa như tác phẩm các loại hình nghệ thuật (đặc biệt là nghệ thuật truyền thống) sẽ được tạo lập bằng công nghệ mới, lưu trữ bằng công nghệ số, hình thành kho dữ liệu lớn trên không gian mạng, tiện lợi cho tra cứu, cung cấp thông tin chính thống đến nhân dân ở trong nước, bạn bè và du khách quốc tế.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;">Theo thống kê của Bộ Công Thương (Cục Thương mại điện tử và Kinh tế số) số liệu điều tra thị trường thu thập số liệu quy mô thị trường thương mại điện tử giữa doanh nghiệp với người tiêu dùng &#8211; B2C (Business To Consumer) nói chunn năm 2021 ước tính tăng 16-18%, đạt doanh thu 13,7-14 tỷ USD, chiếm khoảng 6,2% tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng cả nước.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;">Hiện trên cả nước có 100 đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp và đơn vị nghệ thuật được sáp nhập với Trung tâm văn hóa nghệ thuật tỉnh hoạt động tại 62 tỉnh/thành phố trực thuộc Trung ương. Nếu tính cả các đơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp thuộc lực lượng vũ trang là 117 đơn vị. Số lượng doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh hoạt động văn hóa nghệ thuật hiện nay trên 4.000 công ty, khoảng trên 300 đơn vị hoạt động kinh doanh lĩnh vực âm nhạc, chuyên về tổ chức chương trình biểu diễn ca nhạc tại các tụ điểm ca nhạc, sân khấu, cơ sở lưu trú du lịch, nhà hàng, phòng trà ca nhạc.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;">Theo số liệu của Bộ Thông tin và Truyền thông <a title="" href="file:///C:/Users/Administrator/Desktop/HUY_2023/TBT_2023/Tinbai/Tinbai_9-12/Huy_T9-11_2023_full_tr.docx#_ftn1">[1]</a>, tỷ lệ dân số trưởng thành có điện thoại thông minh là 70,91%; tỷ lệ hộ gia đình có điện thoại thông minh là 85,08%; tỷ lệ hộ gia đình có cáp quang băng rộng là 68,8%. Về kinh tế số, Ước tính tổng doanh thu kinh tế số Quý I/2022 khoảng 53 tỷ USD, đóng góp khoảng 10,2% GDP, trong đó kinh tế số nền tảng có tốc độ tăng trưởng 28%, đạt doanh thu 8 tỷ USD, còn lại là kinh tế số ICT và kinh tế số ngành, với tốc độ tăng trưởng doanh thu trung bình khoảng 15%. Theo số liệu của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, số doanh nghiệp công nghệ số thành lập mới tính đến hết tháng 02/2022, đạt 65.329 doanh nghiệp, tăng 487 doanh nghiệp so với năm 2021.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;">Ứng dụng phục vụ xem truyền hình trực tuyến VTV GO của Đài Truyền hình Việt Nam có khoảng 5,89 triệu người sử dụng hằng tháng, tăng 15,1% so với Quý I/2021. Mỗi người sử dụng trung bình xem VTV GO 28 phút một ngày, tiêu thụ khoảng 300 MB dữ liệu một tháng. Đối với các trang báo điện tử, tổng số lượt truy cập trung bình hằng tháng của VnExpress là 135,7 triệu; Vietnamnet đạt 41,07 triệu; Nhân dân đạt 2,17 triệu&#8230; Tổng doanh thu quảng cáo trên phát thanh, truyền hình năm 2021 (ước tính) đạt 3.200 tỷ đồng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;">Về hoạt động thanh toán qua ngân hàng, các ứng dụng tài chính số của 05 ngân hàng trên có sự phát triển mạnh sovới cùng kỳ năm ngoái và tương đối đồng đều nhau, trong đó số lượng người sử dụng hằng tháng của Vietcombank là 12,2 triệu, tăng 24% so với Quý I/2021; MB là 7,82 triệu, tăng 66% so với Quý I/2021; BIDV là 7,62 triệu, tăng 39% so với Quý I/2021; Viettin Bank là 5,46 triệu, tăng 44% so với Quý I/2021 và AgriBank là 4,86 triệu, tăng 21% so với Quý I/2021&#8230;</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;">Có thể nói rằng, hạ tầng công nghệ nói chung và các công nghệ hỗ trợ trên nền tảng internet nói riêng, mức độ tăng trưởng của người sử dụng băng thông rộng, điện thoại thông minh, nhu cầu thưởng thức các dịch vụ xã hội nói chung, văn hóa nghệ thuật nói riêng ngày một tăng cao. Đồng nghĩa với một thị trường rất lớn về dịch vụ lĩnh vực văn hóa nghệ thuật trên không gian mạng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;">Khi sản phẩm văn hóa, tác phẩm của loại hình nghệ thuật được hình thành và phổ biến, mọi người dân có thể tiếp cận dữ liệu, tiếp nhận thông tin, tri thức, giá trị văn hóa rất dễ dàng. Các ứng dụng cung cấp dịch vụ trên hạ tầng băng thông rộng, phương thức truyền dữ liệu với tốc độ siêu cao tần (qua vệ tinh), 4G, 5G qua các trạm BTS mặt đất đã tạo điều kiện rất thuận lợi khi mọi người dân có ý định tiếp cận thông tin nào đó về văn hóa trên không gian mạng.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;">Việc tương tác của người sử dụng với các sản phẩm công nghệ trên môi trường mạng thông qua biểu hiện cảm xúc, bài viết, âm thanh, hình ảnh&#8230; gần như tức thời (thời gian thực), đáp ứng tính thời sự của thông tin. Nhu cầu hưởng thụ văn hóa của nhân dân ngày càng cao, đa dạng, phong phú sẽ được đáp ứng nhanh chóng, kịp thời thông qua môi trường mạng. Với kho dữ liệu đồ sộ trên không gian mở (có thể tương tác được), mọi người dân không chỉ thừa hưởng giá trị văn hóa ở đây mà còn tham gia vào quá trình sáng tác, phê bình văn học nghệ thuật. Đây là một trong những hoạt động phù hợp với xã hội hiện đại.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;">Chuyển đổi số trong biểu diễn, phổ biến tác phẩm nghệ thuật được thực hiện bởi các đơn vị sự nghiệp công lập, các tổ chức được phép hoạt động trong lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật trên lãnh thổ Việt Nam. Tuy nhiên, với sự phát triển của các ứng dụng công nghệ, hoạt động biểu diễn nghệ thuật không còn ở sân khấu, nhà hát, phổ biến tác phẩm nghệ thuật không còn là bản ghi âm, ghi hình để thưởng thức trên một thiết bị, trên một không gian truyền thống nhất định mà có thể qua internet với tính “xuyên biên giới”. Điều này đặt ra các vấn đề hệ trọng cần được quan tâm trong hoạt động chuyển đổi số của nhóm 1 (quản lý nhà nước lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật).</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;"><i>Kết luận:</i> Chuyển đổi số lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật là một trong những hợp phần quan trọng trong việc hình thành văn hóa số gắn liền với bảo vệ các giá trị đạo đức căn bản của nhân loại và văn hóa truyền thống của Việt Nam<a title="" href="file:///C:/Users/Administrator/Desktop/HUY_2023/TBT_2023/Tinbai/Tinbai_9-12/Huy_T9-11_2023_full_tr.docx#_ftn2">[2]</a>. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch nói chung và ngành biểu diễn nghệ thuật nói riêng chủ yếu thừa kế hạ tầng công nghệ của đất nước để thực hiện chuyển đổi số. Tuy nhiên, trong phạm vi quản lý, việc chuyển đổi số trong hoạt động của cơ quan quản lý nhà nước lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật từ Trung ương đến địa phương cần được ưu tiên. Kèm theo đó, các cơ quan quản lý có liên quan cần ban hành chính sách, cơ chế bảo đảm sự đồng bộ nhằm khuyến khích hoạt động chuyển đổi số của nhóm sáng tạo tác phẩm nghệ thuật (là các nghệ sỹ chuyên nghiệp) và chuyển đổi số của nhóm biểu diễn, phổ biến tác phẩm nghệ thuật (là các đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật). Việc chuyển đổi số và quản lý có hiệu quả hoạt động biểu diễn nghệ thuật trong xu thế CMCN lần thứ 4 là một công việc khó, nhất là khi không gian mạng gần như được &#8220;xã hội hóa&#8221; nhanh hơn so với mô hình truyền thống.</span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;">Công nghệ hỗ trợ hoạt động nghệ thuật (đặc biệt trong xây dựng và phổ biến tác phẩm) là một xu thế khó đảo ngược. Song hành với tác phẩm có giá trị cao về nghệ thuật vẫn tồn tại các sản phẩm nghiệp dư thậm chí phi nghệ thuật. Điều này đặt ra nhiệm vụ đối với các nhà làm chính sách, bảo đảm sự hài hòa và kịp thời về mặt hành chính cũng như sử dụng giải pháp công nghệ nhằm tạo môi trường lành mạnh để phát triển tác phẩm văn học nghệ thuật nói riêng và công nghiệp văn hóa trên không gian mạng nói chung, đáp ứng được xu thế ứng dụng công nghệ lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật trong tình hình mới ở Việt Nam./.</span></p>
<div style="text-align: justify;"><span style="font-size: small;">Dương Viết Huy</span><br clear="all" /></p>
<hr align="left" size="1" width="33%" />
<div>
<p><span style="font-size: small;"><a title="" href="file:///C:/Users/Administrator/Desktop/HUY_2023/TBT_2023/Tinbai/Tinbai_9-12/Huy_T9-11_2023_full_tr.docx#_ftnref1">[1]</a> Báo cáo Tình hình triển khai chuyển đổi số Quý I năm 2022</span></p>
</div>
<div>
<p><span style="font-size: small;"><a title="" href="file:///C:/Users/Administrator/Desktop/HUY_2023/TBT_2023/Tinbai/Tinbai_9-12/Huy_T9-11_2023_full_tr.docx#_ftnref2">[2]</a> Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03 tháng 6 năm 2020 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng năm 2030.</span></p>
</div>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://tbt.khcnmt-bvhttdl.vn/?feed=rss2&#038;p=5946</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Chuyển đổi số dịch vụ lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật</title>
		<link>https://tbt.khcnmt-bvhttdl.vn/?p=5943</link>
		<comments>https://tbt.khcnmt-bvhttdl.vn/?p=5943#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 26 Dec 2023 08:45:41 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Banbt1</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tin Khoa học-Công nghệ-Môi trường]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://tbt-mocst.vn/?p=5943</guid>
		<description><![CDATA[Biểu diễn nghệ thuật là một hoạt động văn hóa có tính xã hội hóa rất cao. Các hoạt động biểu diễn nghệ thuật rất phong phú, đa dạng. Loại hình nghệ thuật biểu diễn bao gồm sân khấu, âm nhạc, múa và các hình thức diễn xướng dân gian [...]]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p>Biểu diễn nghệ thuật là một hoạt động văn hóa có tính xã hội hóa rất cao. Các hoạt động biểu diễn nghệ thuật rất phong phú, đa dạng. Loại hình nghệ thuật biểu diễn bao gồm sân khấu, âm nhạc, múa và các hình thức diễn xướng dân gian từ truyền thống đến hiện đại của Việt Nam và thế giới. Hoạt động nghệ thuật biểu diễn là hoạt động tạo ra những sản phẩm nghệ thuật được định hình dưới dạng văn bản, âm thanh, hình ảnh để truyền đạt trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua các phương tiện kỹ thuật tới công chúng dưới các hình thức biểu diễn nghệ thuật; lưu hành bản ghi âm, ghi hình có nội dung biểu diễn nghệ thuật. Biểu diễn nghệ thuật là hoạt động thể hiện các loại hình nghệ thuật biểu diễn, thi người đẹp, người mẫu hoặc kết hợp giữa loại hình nghệ thuật biểu diễn với trình diễn thời trang, các hoạt động văn hoá, thể thao <a title="" href="file:///C:/Users/Administrator/Desktop/HUY_2023/TBT_2023/Tinbai/Tinbai_9-12/Huy_T9-11_2023_full_tr.docx#_ftn1">[1]</a>.</p>
<p>Trong xu hướng toàn cầu hóa và sự phát triển mạnh của các ứng dụng công nghệ đặc biệt là công nghệ trên nền tảng internet thì mọi hoạt động lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật có tác động gần như tức thời đến đời sống văn hóa, xã hội của nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế. Để đáp ứng được yêu cầu trong tình hình mới đó, nhu cầu chuyển đổi số trong hoạt động lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật là điều rất cần thiết, phù hợp với xu hướng phát triển của công nghệ.</p>
<p>Hiện nay chưa có khái niệm tổng quát về chuyển đổi số để có thể đúng với mọi ngành, mọi lĩnh vực nhưng về góc nhìn công nghệ có thể hiểu chuyển đổi số gắn với nội hàm của 3 từ tiếng Anh<a title="" href="file:///C:/Users/Administrator/Desktop/HUY_2023/TBT_2023/Tinbai/Tinbai_9-12/Huy_T9-11_2023_full_tr.docx#_ftn2">[2]</a>: <i>Digitization, Digitalization</i> và <i>Digital Transformation. Digitization,</i> tiếng Việt gọi là số hoá, là số hoá thông tin. Thông tin được số hoá và lưu trữ, xử lý trên máy tính. <i>Digitalization</i>, tiếng Việt gọi là ứng dụng công nghệ thông tin, là số hoá các quy trình. Là số hoá chiều dọc, số hoá các chức năng của một tổ chức (ví dụ các phần mềm ứng dụng trong cơ quan, đơn vị để hỗ trợ hoạt động chuyên môn). Hoạt động này tập trung nhiều về công nghệ nâng cao năng suất lao động. <i>Digital Transformation</i>, tiếng Việt gọi là chuyển đổi số (CĐS), là số hoá toàn bộ tổ chức, 100% hoạt động của tổ chức được chuyển lên trên môi trường số và tiếp theo là thay đổi cách hoạt động của tổ chức. Hoạt động chuyển đổi số sẽ gắn với thay đổi về chiến lược của tổ chức, vận hành của tổ chức&#8230;</p>
<p>Như vậy, về góc nhìn công nghệ có thể hiểu Chuyển đổi số trong lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật của Việt Nam là việc sử dụng công nghệ số để thay đổi một cách tổng thể, toàn diện tất cả các khía cạnh liên quan đến hoạt động lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật trên lãnh thổ Việt Nam. Hiệu quả của quá trình chuyển đổi số này là nâng cao chất lượng quản lý và cung cấp dịch vụ văn hóa lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật bằng công nghệ đến nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế. Theo cách hiểu tổng quát này, nhu cầu chuyển đổi số trong lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật có thể chia thành một số nhóm chính: <i>Thứ nhất</i> là chuyển đổi số phục vụ công tác quản lý nhà nước của ngành, liên ngành bao gồm việc cung cấp dịch vụ công, thống kê số liệu quản lý nhà nước về biểu diễn nghệ thuật. Nhóm công việc này thuộc trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước về biểu diễn nghệ thuật (có thể) phối hợp với các cơ quan có liên quan (ví dụ cơ quan thống kê, cơ quan kiểm soát an ninh văn hóa&#8230;) từ trung ương đến địa phương. <i>Thứ hai</i> là chuyển đổi số trong hoạt động sáng tạo, sản xuất tác phẩm các loại hình nghệ thuật truyền thống và đương đại theo quy định của pháp luật. <i>Thứ ba </i>là chuyển đổi số trong hoạt động biểu diễn nghệ thuật bao gồm biểu diễn trực tiếp trên sân khấu hoặc qua bản ghi âm, ghi hình trên không gian mạng. Hoạt động này đòi hỏi việc ứng dụng hài hòa nhiều công nghệ để phù hợp với hình thức thể hiện chuyển tải giá trị nghệ thuật đến người xem trên sân khấu hoặc qua internet, truyền hình số, vệ tinh&#8230;</p>
<p>Nhóm công việc thứ hai và thứ ba này chủ yếu được thực hiện bởi các đơn vị sự nghiệp công lập lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật từ trung ương đến địa phương, cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật và doanh nghiệp cung cấp dịch vụ đi kèm trên lãnh thổ Việt Nam.</p>
<ol>
<li>Chuyển đổi số trong quản lý nhà nước lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật</li>
</ol>
<p>Hiện nay, cơ quan quản lý nhà nước về hoạt động biểu diễn nghệ thuật là Cục Nghệ thuật biểu diễn – Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch. Các hoạt động quản lý nhà nước về nghệ thuật biểu diễn gồm<a title="" href="file:///C:/Users/Administrator/Desktop/HUY_2023/TBT_2023/Tinbai/Tinbai_9-12/Huy_T9-11_2023_full_tr.docx#_ftn3">[3]</a> : (1) Hướng dẫn và tổ chức thực hiện quy hoạch phát triển nghệ thuật biểu diễn sau khi được phê duyệt; (2) Hướng dẫn và tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về biểu diễn, tổ chức biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; thi người đẹp và người mẫu; lưu hành, kinh doanh bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu; (3) Quy định về tổ chức thi và liên hoan các loại hình nghệ thuật chuyên nghiệp; (4) Cấp, thu hồi giấy phép về biểu diễn, tổ chức biểu diễn nghệ thuật, trình diễn thời trang; thi người đẹp và người mẫu; lưu hành, kinh doanh bản ghi âm, ghi hình ca múa nhạc, sân khấu theo quy định của pháp luật.</p>
<p>Chuyển đổi số trong công tác quản lý nhà nước lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật bao gồm 3 nhiệm vụ chính đó là: Cung cấp dịch vụ hành chính công trực tuyến đến người dân và doanh nghiệp; ứng dụng công nghệ trong hoạt động nội bộ của cơ quan quản lý từ trung ương đến địa phương; ứng dụng công nghệ trong công tác quản lý nhà nước thuộc chức năng và quyền hạn được phân công trên lãnh thổ Việt Nam.</p>
<p>Hiện nay, các dịch vụ công trực tuyến lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật đã được cung cấp dưới dạng mức độ 3 (là dịch vụ công trực tuyến mức độ 2 và cho phép người sử dụng điền và gửi trực tuyến các mẫu văn bản đến cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ. Các giao dịch trong quá trình xử lý hồ sơ và cung cấp dịch vụ được thực hiện trên môi trường mạng. Việc thanh toán lệ phí (nếu có) và nhận kết quả được thực hiện trực tiếp tại cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ). Mục tiêu hướng đến mức độ 4 (là dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và cho phép người sử dụng thanh toán lệ phí (nếu có) được thực hiện trực tuyến. Việc trả kết quả có thể được thực hiện trực tuyến, gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện đến người sử dụng) <a title="" href="file:///C:/Users/Administrator/Desktop/HUY_2023/TBT_2023/Tinbai/Tinbai_9-12/Huy_T9-11_2023_full_tr.docx#_ftn4">[4]</a>.</p>
<p>Như vậy, chuyển đổi số trong hoạt động cung cấp dịch công đòi hỏi việc ứng dụng đồng bộ công nghệ từ các hoạt động nội bộ trong cơ quan quản lý nhà nước cấp trung ương, địa phương và cung cấp dịch vụ công trực tuyến đến người dân và doanh nghiệp qua internet.</p>
<p>Ngoài ra, việc chuyển đổi số để nâng cao hiệu lực hiệu quả công tác quản lý nhà nước lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật còn gắn liền với hoạt động của các cơ quan khác có liên quan ví dụ: Số liệu phục vụ thống kê biểu diễn nghệ thuật trên toàn quốc, số liệu này của các địa phương phải được cập nhật theo định kỳ thông qua hệ thống thông tin tập trung. Tuy nhiên, hiện nay các số liệu này chủ yếu vẫn thông qua bản giấy để tổng hợp, việc chuẩn hóa số liệu thống kê lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật trên phạm vi quốc gia vẫn chưa hoàn thiện. Điều này đặt ra nhu cầu lớn trong việc chuyển đổi số trong công tác thống kê biểu diễn nghệ thuật mà cơ quan quản lý nhà nước cần thực hiện.</p>
<ol>
<li>Chuyển đổi số trong sáng tạo tác phẩm nghệ thuật</li>
</ol>
<p>Một trong những đặc trưng của cuộc CMCN lần thứ tư là con người không phụ thuộc hoàn toàn vào thiết bị, máy móc mà chúng sẽ là công cụ để giúp việc phát huy khả năng, trí tuệ, năng lực sáng tạo của con người. Lĩnh vực văn hóa, nghệ thuật được xem là các ngành cung cấp dịch vụ tinh thần cho con người và người nghệ sỹ được xem là một mắt xích quan trọng có tính tiên quyết cho chuỗi cung cấp dịch vụ đó.</p>
<p>Ở nước ta, các thế hệ nghệ sỹ, tác giả có thể đi sau về công nghệ nhưng lại được thừa kế các công nghệ hiện đại của thế giới (đã được thế giới sử dụng và chứng minh sự thành công trước đó) để sáng tạo tác phẩm, sản phẩm. Các văn nghệ sỹ có thể trực tiếp sáng tác tác phẩm mỹ thuật, văn học nghệ thuật ngay trên môi trường mạng, cộng đồng mạng có thể tham gia trong quá trình hoàn thành tác phẩm. Đây là xu hướng tất yếu, thay thế dần cũng như hỗ trợ phương thức sáng tạo truyền thống mà chúng ta vẫn quen thuộc từ rất nhiều năm trước. Hiện nay, các thế hệ nghệ sỹ trẻ từng bước tiếp cận và ứng dụng công nghệ một cách có hiệu quả.</p>
<p>Công nghệ tạo lập và xử lý âm thanh, ánh sáng có thể sản xuất được sản phẩm âm nhạc hoàn toàn bằng điện tử, không phải ghi âm, ghi hình như phương pháp truyền thống&#8230; Thậm chí mọi người (nghệ sỹ không chuyên) có thể tham gia sản xuất các sản phẩm văn hóa bằng công nghệ số. Ví dụ, trong sáng tác âm nhạc, một người có thể huýt sáo và hệ thống máy tính có thể lấy tần số, cao độ, trường độ, sắc thái&#8230;để chuyển thể thành bản nhạc điện tử. Bản nhạc điện tử này có thể nghe bằng nhiều loại nhạc cụ khác nhau, có thể điều chỉnh bản nhạc trên máy tính mà không phải tốn nhiều giấy mực.</p>
<p>Công nghệ thực tế ảo – VR (virtual reality) có thể giúp con người thông qua kính thực tế ảo (3 chiều) để nhìn thấy không gian ảo về các đối tượng được mô phỏng một cách chân thực nhất. Các thiết bị phần cứng có chức năng tiếp nhận cử chỉ, trạng thái, cảm giác kích thích, hoạt động của con người biến thành các tín hiệu điện tử để tương tác với hệ thống phần mềm trên thời gian thực, có nghĩa là máy tính có khả năng nhận biết được tín hiệu vào của người sử dụng và thay đổi tương ứng ngay lập tức thế giới ảo. Nhờ các thiết bị phần cứng và phần mềm mà việc “ảo hóa tác phẩm” trên “không gian ảo” có tác động toàn diện đến mọi cảm giác của con người như ở trên không gian thực. Trong nhiều trường hợp, chất lượng cảm nhận của con người trên không gian ảo thậm chí còn tốt hơn khi con người ở không gian thực vì thông thường các công nghệ hỗ trợ sẽ điều chỉnh (theo hướng tốt lên) để phù hợp nhất với đặc tính các giác quan, tâm lý của con người.</p>
<p>Công nghệ thực tế ảo sẽ là một trong những xu hướng ứng dụng công nghệ rất quan trọng trong sáng tạo và biểu diễn nghệ thuật. Khi một số loại nghệ thuật truyền thống có nguy cơ mai một (có thể bị thất truyền). Người nghệ sỹ có thể ứng dụng công nghệ để mô hình hóa, mô phỏng các động tác để số hóa, lưu trữ các động tác liên quan đến hình thể (như lĩnh vực, diễn xuất&#8230;) của các nghệ sỹ nổi tiếng hoặc tạo dựng một tác phẩm của &#8220;nghệ sỹ ảo&#8221;. Không gian biểu diễn nghệ thuật không chỉ là ở nhà hát mà hoàn toàn có thể qua không gian mạng thì việc ứng dụng công nghệ mới để sáng tạo tác phẩm nghệ thuật và &#8220;biểu diễn&#8221; trên không gian ảo, nhà hát ảo &#8230; với âm thanh, hình ảnh chất lượng rất cao, thậm chí chất lượng hơn việc nghe &#8211; nhìn trực tiếp ở bên ngoài vì chúng đã được công nghệ xử lý nhiễu để tập trung vào thông điệp và đích đến của thông điệp cần chuyển tải. Điều này đã đặt ra cho các nghệ sỹ, người sáng tạo nghệ thuật các yêu cầu bức bách về ứng dụng công nghệ. Đây là xu hướng tất yếu!</p>
<p>Một ví dụ về chuyển đổi số này là Lễ khai mạc SEA Games 31, để tạo hiệu ứng hấp dẫn cho các tiết mục, ê-kíp sáng tạo sử dụng các công nghệ trình chiếu hình ảnh mới nhất hiện nay như công nghệ trình chiếu hình ảnh đồ họa (Mapping), công nghệ thực tế ảo tăng cường (Augmented Reality &#8211; AR), công nghệ thực tế mở rộng (Extended Reality &#8211; EX) bao gồm thực tế tăng cường (AR- Augmented Reality), thực tế ảo (VR-Virtual Reality), hay thực tế hỗn hợp (MR-Mixed Reality). Màn trình chiếu mapping với biểu tượng của 40 môn thể thao các quốc gia được thể hiện bằng hình thức tranh Đông Hồ là một trong những điểm nhấn về ứng dụng công nghệ trong sáng tạo và biểu diễn nghệ thuật.</p>
<p>Như vậy, chuyển đổi số trong sáng tạo tác phẩm nghệ thuật phải được thực hiện thông qua những hạt nhân về nghệ thuật đó là các nghệ sỹ chuyên nghiệp, các đơn vị sự nghiệp công lập, tổ chức được phép hoạt động trong lĩnh vực biểu diễn nghệ thuật trên lãnh thổ Việt Nam, theo pháp luật Việt Nam.</p>
<p style="text-align: right;">Dương Viết Huy</p>
<div><br clear="all" /></p>
<hr align="left" size="1" width="33%" />
<div>
<p><a title="" href="file:///C:/Users/Administrator/Desktop/HUY_2023/TBT_2023/Tinbai/Tinbai_9-12/Huy_T9-11_2023_full_tr.docx#_ftnref1">[1]</a> Nghị định số 144/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ Quy định về hoạt động nghệ thuật biểu diễn</p>
</div>
<div>
<p><a title="" href="file:///C:/Users/Administrator/Desktop/HUY_2023/TBT_2023/Tinbai/Tinbai_9-12/Huy_T9-11_2023_full_tr.docx#_ftnref2">[2]</a> Bộ Thông tin và Truyền thông</p>
</div>
<div>
<p><a title="" href="file:///C:/Users/Administrator/Desktop/HUY_2023/TBT_2023/Tinbai/Tinbai_9-12/Huy_T9-11_2023_full_tr.docx#_ftnref3">[3]</a> Nghị định số 79/2017/NĐ-CP ngày 17/7/2017 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch;</p>
</div>
<div>
<p><a title="" href="file:///C:/Users/Administrator/Desktop/HUY_2023/TBT_2023/Tinbai/Tinbai_9-12/Huy_T9-11_2023_full_tr.docx#_ftnref4">[4]</a> Nghị định số 43/2011/NĐ-CP ngày 13/6/2011 của Chính phủ Quy định về việc cung cấp thông tin và dịch vụ công trực tuyến trên trang thông tin điện tử hoặc cổng thông tin điện tử của cơ quan nhà nước</p>
</div>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://tbt.khcnmt-bvhttdl.vn/?feed=rss2&#038;p=5943</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Ứng dụng khoa học, công nghệ trong bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa Việt Nam</title>
		<link>https://tbt.khcnmt-bvhttdl.vn/?p=6064</link>
		<comments>https://tbt.khcnmt-bvhttdl.vn/?p=6064#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 26 Dec 2023 08:11:47 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Banbt1</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tin Khoa học-Công nghệ-Môi trường]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://tbt-mocst.vn/?p=6064</guid>
		<description><![CDATA[Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN lần thứ tư) đã và đang diễn ra trên thế giới. Xuất phát từ thành tựu của 3 cuộc cách mạng công nghiệp trước đây, đặc biệt là cách mạng công nghiệp lần thứ 3 với sự ra đời và phát [...]]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p><i>Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN lần thứ tư) đã và đang diễn ra trên thế giới. Xuất phát từ thành tựu của 3 cuộc cách mạng công nghiệp trước đây, đặc biệt là cách mạng công nghiệp lần thứ 3 với sự ra đời và phát triển các ứng dụng của máy tính, mạng internet và công nghệ truyền thông không dây.</i></p>
<p>Hiện nay ở Việt Nam, việc ứng dụng thành tựu khoa học và công nghệ của thế giới về công nghệ thông tin, truyền thông, công nghệ cao đã làm thay đổi cơ bản phương thức truyền thông cũng như hình thức tiếp nhận thông tin của nhân dân. Đối với văn hóa, là ngành mà nhân lực không trực tiếp nghiên cứu và sản xuất các công nghệ mới là thành tựu của cuộc CMCN lần thứ 4 nhưng việc ứng dụng khoa học, thành tựu công nghệ để bảo tồn, phát huy và phát triển giá trị văn hóa, hội nhập quốc tế về văn hóa là xu hướng tất yếu, phù hợp với xu thế thời đại.</p>
<p>Quan điểm của Đảng và nhà nước trong việc ứng dụng khoa học công nghệ trong phát triển văn hóa</p>
<p>Cách đây hơn 20 năm, ngày 16.7.1998, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã ban hành Nghị quyết về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc (Nghị quyết số 03-NQ/TW). Để nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng trên lĩnh vực văn hóa, việc xây dựng, ban hành các chính sách phải chú trọng đến việc tạo điều kiện trong xây dựng cơ sở hạ tầng, đổi mới công nghệ; Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng theo hướng vừa đảm bảo cho sự phát triển các giá trị văn hóa phù hợp với sự phát triển của khoa học công nghệ trên cơ sở phát huy tính tự giác cao với mục đích đúng đắn.</p>
<p>Đến năm 2014, Nghị quyết số 33-NQ/TW tại Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước (Nghị quyết số 33-NQ/TW). Theo đó, nhiệm vụ Phát triển công nghiệp văn hóa đi đôi với xây dựng, hoàn thiện thị trường văn hóa đã được đặt ra. Chủ trương xây dựng cơ chế khuyến khích đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật và công nghệ tiên tiến để nâng cao chất lượng sản phẩm văn hóa là rất đúng đắn và phù hợp với xu thế phát triển và hội nhập quốc tế về văn hóa.</p>
<p>Trong giai đoạn từ khi có Nghị quyết số 03-NQ/TW, sau này là Nghị quyết số 33-NQ/TW và đến nay, nhiều chủ trương, chính sách của Đảng đã được Chính phủ cụ thể hóa bằng các văn bản chỉ đạo, trong đó vấn đề ứng dụng khoa học, công nghệ đã được đặt ra như là một nhiệm vụ để ngành văn hóa nói riêng và các ngành/lĩnh vực khác có liên quan thích nghi, ứng phó với các thách thức, phù hợp với xu thế phát triển nhanh của khoa học và các ứng dụng công nghệ của thế giới. Ví dụ:</p>
<p>Chiến lược Phát triển văn hoá đến năm 2020, vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc ta trước nguy cơ về sự đồng nhất hoá các hệ giá trị văn hoá trước ý đồ của một số cường quốc muốn áp đặt những giá trị văn hoá cho các dân tộc khác dựa trên sức mạnh của công nghệ thông tin đã được đặt ra. Các nhiệm vụ về ứng dụng công nghệ như: ứng dụng công nghệ trong hoạt động công sở; đầu tư chiều sâu trang thiết bị, công nghệ hiện đại để nâng cao chất lượng các sản phẩm văn hoá đáp ứng yêu cầu trong nước và xuất khẩu ra nước ngoài, sản xuất phim theo công nghệ hiện đại, đạt chuẩn kỹ thuật quốc tế về hình ảnh và âm thanh làm phim, ứng dụng công nghệ nhằm tự động hoá, hiện đại hoá trong các khâu hoạt động của thư viện&#8230;</p>
<p>Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 được Thủ tướng Chính phủ ban hành ngày 8.9.2016. Theo đó, các nhiệm vụ nhằm nâng cao hiệu quả ứng dụng công nghệ như: Ứng dụng thành tựu khoa học kỹ thuật và công nghệ hiện đại trong sáng tạo, sản xuất, phổ biến, lưu giữ các sản phẩm văn hóa và nâng cao chất lượng dịch vụ văn hóa; thực hiện đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của các ngành công nghiệp văn hóa gắn với ứng dụng khoa học công nghệ hiện đại; nâng cao hàm lượng khoa học kỹ thuật trong chuỗi sản xuất sản phẩm, dịch vụ của các ngành công nghiệp văn hóa; Đổi mới và phát triển các ngành sản xuất sản phẩm, dịch vụ văn hóa truyền thống như: In ấn, xuất bản, phát hành, biểu diễn nghệ thuật, sản xuất phim, giải trí, quảng cáo, triển lãm.</p>
<p>Năm 2017, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 16/CT-TTg về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc CMCN lần thứ tư (Chỉ thị số 16/CT-TTg). Theo đó, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng kế hoạch và nhiệm vụ trọng tâm của ngành để triển khai phù hợp với xu thế phát triển của cuộc CMCN lần thứ 4; Tổ chức lựa chọn, đề xuất các sản phẩm chủ lực, có lợi thế cạnh tranh của ngành báo cáo Thủ tướng Chính phủ để xem xét, chỉ đạo tập trung đầu tư phát triển.</p>
<p>Như vậy, chủ trương đường lối của Đảng về ứng dụng khoa học, công nghệ đối với lĩnh vực văn hóa về cơ bản đã được Chính phủ chỉ đạo để Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và các bộ ngành liên quan khác triển khai thực hiện.</p>
<p>Định hướng danh mục sản phẩm chủ lực của ngành văn hóa</p>
<p>Triển khai Chỉ thị số 16/CT-TTg, Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã ban hành “Định hướng và danh mục sản phẩm chủ lực của ngành văn hóa, thể thao và du lịch giai đoạn 2017-2020”, theo đó có 04 nhóm sản phẩm ưu tiên triển khai, thực hiện bao gồm:</p>
<p>Lĩnh vực Điện ảnh với các sản phẩm là tác phẩm điện ảnh sản xuất và trình chiếu theo công nghệ số. Sự phát triển của công nghệ số đã làm thay đổi ngành công nghiệp điện ảnh. Chẳng hạn việc xuất hiện khái niệm “diễn viên kỹ thuật số” bằng việc tạo ra các hình ảnh phim mới từ những dữ liệu số hóa đã có của diễn viên. Kể cả khi diễn viên đã chết, vẫn có thể đóng tiếp những phim mới bằng vào việc sử dụng dữ liệu số của diễn viên đó. Sản xuất phim kỹ thuật số là xu hướng tất yếu hiện nay.</p>
<p>Lĩnh vực Nghệ thuật biểu diễn với các sản phẩm, dịch vụ biểu diễn nghệ thuật sử dụng công nghệ âm thanh, ánh sáng hiện đại; ứng dụng công nghệ trong truyền dạy nghệ thuật truyền thống và đương đại. Hiện nay, công nghệ thực tại ảo, trình diễn công nghệ về âm thanh, ánh sáng, hình ảnh 3D sẽ tạo nên những thay đổi trong các hoạt động nghệ thuật biểu diễn truyền thống. Bằng công nghệ, có thể tái hiện việc biểu diễn tại một nhà hát, hay sân vận động trực tiếp sống động như thật trước các khán giả khác, ở những địa điểm khác nhau trên thế giới vào cùng một thời điểm.</p>
<p>Lĩnh vực Di sản văn hóa ưu tiên ứng dụng khoa học, công nghệ để xây dựng quy trình xử lý, bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích; Xây dựng hệ thống trưng bày và thuyết minh tương tác trong bảo tàng; Ứng dụng công nghệ vào quy trình xử lý, bảo quản hiện vật trong bảo tàng; Xây dựng cơ sở dữ liệu ngành di sản văn hóa. Hiện nay, các bảo tàng ảo dành cho công chúng tham quan trực tuyến, các hình ảnh 3D của hiện vật, công nghệ thuyết minh tự động, tự dịch ra các ngôn ngữ khác nhau, thậm chí có thể tự trả lời, tương tác với công chúng tham quan bảo tàng. Công nghệ quét và in 3D được sử dụng để phục chế, nhân bản, sản xuất các hiện vật, di sản cho nhiều mục đích sử dụng khác nhau từ trưng bày, nghiên cứu, hay bán hàng lưu niệm. Việc hình thành dữ liệu số hóa và chia sẻ bằng công nghệ dữ liệu lớn (bigdata) về di sản văn hóa sẽ làm thay đổi phương thức bảo tồn, phát huy giá trị di sản, quảng bá về di sản trên môi trường số. Các hiện vật hoặc di sản được gắn các chip cảm ứng để thu thập thông tin liên tục về tình trạng hiện vật và di sản, giúp hoạt động quản lý, bảo tồn, phát huy giá trị di sản hiệu quả hơn.</p>
<p>Lĩnh vực thư viện với sản phẩm thư viện số. Thư viện đang đứng trước nguy cơ cạnh tranh rất lớn khi mọi thứ đều được số hóa và xuất bản ấn phẩm điện tử. Các tài liệu thư viện sẽ chuyển thành dạng tài liệu điện tử, và thư viện sẽ chuyển dần từ mô hình thư viện truyền thống sang thư viện điện tử (thư viện số). Với việc kết nối, chia sẻ thông tin, dữ liệu qua internet, thư viện số không còn bị rào cản bời không gian, thời gian. Thư viện số sẽ tạo cơ hội cho việc truy cập, kết nối hệ thống dữ liệu giữa các thư viện trên toàn quốc và với các thư viện trên thế giới tạo cơ hội cho vùng sâu, vùng xa, vùng dân tộc thiểu số có cơ hội bình đẳng trong tiếp cận nguồn tri thức của thư viện.</p>
<p>Như vậy, trước xu hướng phát triển và ứng dụng thành tựu của CMCN lần thứ 4, nhu cầu của xã hội nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống bằng sản phẩm công nghệ đã trở nên cần thiết và rất tự nhiên. Trước nhu cầu của xã hội hiện nay, các nhà quản lý hoạch định chính sách về công nghệ cần căn cứ chủ trương đường lối của Đảng và tình hình thực tiễn, nắm bắt một cách chủ động, tận dụng tốt thời cơ, thành tựu của CMCN lần thứ 4. Việc ứng dụng công nghệ trong các hoạt động văn hóa của đất nước là vấn đề khó. Vì vậy để triển khai có hiệu quả hoạt động này đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ với phương châm “kiên trì và liên tục” bởi các giải pháp cụ thể, khả thi của nhà quản lý hoạch định chính sách, sự chủ động của các đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp và toàn xã hội.</p>
<p style="text-align: right;"><strong>Dương Viết Huy</strong></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://tbt.khcnmt-bvhttdl.vn/?feed=rss2&#038;p=6064</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Cần có chính sách pháp luật phù hợp để giải quyết vấn đề về môi trường ở Việt Nam</title>
		<link>https://tbt.khcnmt-bvhttdl.vn/?p=6502</link>
		<comments>https://tbt.khcnmt-bvhttdl.vn/?p=6502#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 26 Dec 2023 04:45:52 +0000</pubDate>
		<dc:creator>Banbt1</dc:creator>
				<category><![CDATA[Tin Khoa học-Công nghệ-Môi trường]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://tbt-mocst.vn/?p=6502</guid>
		<description><![CDATA[Ngày 28/12, Trường đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức hội thảo khoa học “30 năm thực thi Luật Bảo vệ môi trường”, thu hút đông đảo các chuyên gia, nhà khoa học tham dự. Luật Bảo vệ môi trường đầu tiên của Việt Nam được Quốc [...]]]></description>
				<content:encoded><![CDATA[<p>Ngày 28/12, Trường đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức hội thảo khoa học “30 năm thực thi Luật Bảo vệ môi trường”, thu hút đông đảo các chuyên gia, nhà khoa học tham dự.</p>
<p>Luật Bảo vệ môi trường đầu tiên của Việt Nam được Quốc hội thông qua ngày 27/12/1993, tính đến nay đã tròn 30 năm. Sau Luật Bảo vệ môi trường năm 1993, Quốc hội lần lượt thông qua Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 và Luật Bảo vệ môi trường năm 2020.</p>
<p>Phát biểu khai mạc hội thảo, Tiến sĩ Lê Trường Sơn, Hiệu trưởng Trường đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh nhấn mạnh, cùng với phát triển kinh tế, bảo vệ môi trường là yếu tố bảo đảm an sinh xã hội, tạo nên sự phát triển bền vững.</p>
<p>Trải qua 30 năm xây dựng, ban hành, sửa đổi và thực thi, “Luật Bảo vệ môi trường đã kịp thời góp phần hoàn thiện thể chế, chính sách, quy định pháp luật về bảo vệ môi trường, tạo hành lang pháp lý đồng bộ, thống nhất về bảo vệ môi trường, góp phần thúc đẩy phát triển bền vững”, Tiến sĩ Lê Trường Sơn cho biết.</p>
<p>Tại hội thảo, các nhà khoa học, chuyên gia pháp lý cho rằng, các vấn đề về môi trường ở Việt Nam ngày càng gia tăng và ngày càng trở nên cấp bách đe dọa sự phát triển bền vững của đất nước, cản trở việc bảo đảm quyền con người sống trong môi trường, vì vậy, cần phải có chính sách pháp luật môi trường phù hợp để giải quyết.</p>
<p>Ngoài ra, vấn đề môi trường là vấn đề toàn cầu, giải quyết vấn đề môi trường cần sự tham gia của toàn nhân loại, của tất cả các quốc gia trên thế giới. Việt Nam cần chuyển hóa, ghi nhận các cam kết về bảo vệ môi trường vào trong hệ thống pháp luật quốc gia và tham gia tích cực vào các cơ chế toàn cầu và khu vực.</p>
<p>Sau 30 năm kể từ ngày Luật Bảo vệ môi trường đầu tiên năm 1993 được thông qua và có hiệu lực, Việt Nam đã thể hiện sự nỗ lực trong công cuộc bảo vệ môi trường theo hướng phát triển bền vững.</p>
<p>Đồng thời, phạm vi điều chỉnh của Luật Bảo vệ môi trường ngày càng được mở rộng, đáp ứng các yêu cầu của việc giải quyết các vấn đề môi trường ở Việt Nam và trên phạm vi toàn thế giới.</p>
<p>Tuy nhiên, phạm vi điều chỉnh, nội dung điều chỉnh của Luật Bảo vệ môi trường càng mở rộng thì việc thực thi càng gặp nhiều khó khăn. Cho nên Việt Nam cần bảo đảm các nguồn lực cần thiết để thực thi; các tổ chức chính trị, chính trị-xã hội và toàn hệ thống chính trị cần tăng cường tham gia vào các hoạt động bảo vệ môi trường, giám sát việc thực hiện pháp luật bảo vệ môi trường một cách chặt chẽ.</p>
<p>Hội thảo nhằm tạo diễn đàn để trao đổi, đánh giá, làm rõ những thành tựu, thách thức trong việc thực thi Luật Bảo vệ môi trường trong 30 năm qua. Qua đó, đưa ra những đề xuất, kiến nghị, giải pháp để góp phần nâng cao hiệu quả thực thi Luật Bảo vệ môi trường trong thời gian tới.</p>
<p style="text-align: right;"><em>Nguồn: Tạp chí điện tử Tài Nguyên và Môi trường</em></p>
<p style="text-align: right;"><em>Nguyễn Lan Hương st</em></p>
<p>&nbsp;</p>
<p>&nbsp;</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>https://tbt.khcnmt-bvhttdl.vn/?feed=rss2&#038;p=6502</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
