Tại hội thảo “Năng lực cạnh tranh của DN và các hiệp định thương mại tự do: Kì vọng và bài học kinh nghiệm” do Cơ quan Phát triển Quốc tế Hoa Kì (USAID) tại Việt Nam phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức cuối tuần qua tại TP.HCM, ông Trần Hữu Huỳnh, Chủ tịch ủy ban Tư vấn chính sách thương mại quốc tế VCCI cho biết, trong thời gian qua 8 FTA đã kí kết đã có tác động thực tế tới Việt Nam. Sản xuất XK có lợi thế hơn từ việc loại bỏ thuế quan. Tăng trưởng XK đối với phần lớn FTA với mức độ tăng trưởng cao hơn so với giai đoạn trước khi có FTA. Điển hình như xuất siêu sang Hàn Quốc đã tăng gấp hai lần từ khi Việt Nam kí kết FTA với Hàn Quốc (AK FTA). Tăng trưởng NK máy móc thiết bị chiếm tỉ lệ đáng kể trong cơ cấu. Điều này cho thấy các DN đã khai thác được ưu thế lớn của FTA là tăng trưởng XK, tăng trưởng NK để phục vụ XK.

Trong những năm qua, các FTA đã kí kết cũng giúp Việt Nam thu hút được nhiều nguồn vốn, công nghệ và trình độ quản lí từ các nhà đầu tư đến từ các nước đã có FTA với Việt Nam. Một điểm đáng ghi nhận là các FTA đã góp phần quan trọng giúp môi trường kinh doanh của Việt Nam thông thoáng và an toàn hơn. Một loạt văn bản chính sách, pháp luật quan trọng được xây dựng, sửa đổi. Một loạt các chính sách thể chế kinh tế thị trường được đưa ra. Cải cách thủ tục hành chính được triển khai trên diện rộng. Các DN đã chủ động tham gia vào chính sách thương mại quốc tế.

Bên cạnh những tác động tích cực nêu trên, việc hấp thụ của các FTA đã kí kết cũng còn nhiều hạn chế. Nhiều DN chưa tận dụng đầy đủ được các lợi ích thuế quan do không biết về các FTA, thủ tục cấp giấy chứng nhận xuất xứ còn phức tạp, đặc biệt là phần lớn các DN chưa đáp ứng được các điều kiện về nguyên tắc xuất xứ. Theo số liệu của Bộ Công Thương, trong thời gian qua chỉ có ưu đãi của FTA Hàn Quốc là được khai thác tốt còn các FTA khác mới khai thác được rất ít hoặc bỏ trống. Bên cạnh đó dù kim ngạch XK tăng mạnh nhưng giá trị XK lại không cao do chủ yếu là XK thô và gia công. Sự gia nhập với các FTA cũng khiến cho thị trường nội địa bị cạnh tranh khốc liệt, nhập siêu tăng mạnh. Trong đó chủ yếu là nhập siêu từ Trung Quốc. Một hạn chế đáng quan tâm của Việt Nam sau khi tham gia vào các FTA là năng suất lao động gia tăng chậm. Báo cáo thường niên của VCCI trong năm 2013 cho thấy, sau 5 năm gia nhập WTO, năng suất lao động giảm xuống còn 3,4% so với 5% ở thời điểm trước đó. Ngoài ra, đã xuất hiện các nhóm dễ bị tổn thương như nông nghiệp, nông thôn, nông dân, điển hình là nông sản của Việt Nam đang bị cạnh tranh gay gắt trên chính sân nhà. Trong thời gian qua cũng đã xuất hiện rào cản ở thị trường các nước có FTA như các hàng rào kiểm dịch ở biên giới Trung Quốc, các biện pháp phòng vệ thương mại đối với mặt hàng thép ở một số nước ASEAN… Trong khi đó Việt Nam còn thiếu cơ chế hỗ trợ sử dụng các công cụ bảo vệ thị trường nội địa trước hàng NK cạnh tranh không lành mạnh. Việc kiểm soát các FDI chưa tốt đang gây bất bình đẳng giữa các DN.