Trong lĩnh vực xuất khẩu, báo cáo cho biết trong giai đoạn 2007 – 2011, xuất khẩu đã tăng 2,4 lần, từ 39,8 tỉ USD lên 96,9 tỉ USD tốc độ tăng trưởng xuất khẩu bình quân đạt 19,5% cao hơn chỉ tiêu 16%. Tuy nhiên mức tăng trưởng này thấp hơn so với 5 năm trước WTO (bình quân 21,5%/năm).
“Giống như thời kì trước khi gia nhập WTO, thành tựu tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam là do tăng trưởng thương mại toàn cầu (yếu tố chính) và tự do hóa, cải thiện khả năng cạnh tranh. Dường như gia nhập WTO chưa mang lại lợi ích đáng kể đối với tăng trưởng xuất khẩu, hoặc DN nước ta chưa tận dụng được cơ hội mới từ các nền kinh tế thành viên WTO”, báo cáo nhận định.
Về thị trường, hàng hóa Việt Nam chủ yếu xuất khẩu vào các thị trường chính là ASEAN, Mỹ, EU và Nhật Bản) với tỉ lệ 81,6% trong giai đoạn 2007 – 2011. Điều này cho thấy thị trường xuất khẩu của nước ta còn chưa đa dạng.
Trừ các sản phẩm CNTT và dệt may, cam kết cắt giảm thuế quan trong WTO (gồm khoảng 10.600 dòng thuế) không có tác động lớn do mức độ cắt giảm không nhiều (giảm trung bình 23% so với mức trước khi vào WTO), cam kết WTO tác động nhiều ở khía cạnh thể chế gồm: quyền xuất khẩu, nhập khẩu, phân phối, đầu tư và lĩnh vực dịch vụ.
Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng kiến nghị: Bộ NN & PTNN từng bước hoàn chỉnh các cơ chế đảm bảo sản xuất và tiêu thụ ổn định các mặt hàng nông sản, thủy sản chính như gạo, cá tra, tôm và cà phê.
Bộ Tài chính – Tổng cục Hải quan quản lý chặt việc xuất khẩu theo phương thức buôn bán biên giới, nhất là các mặt hàng có giá trị cao, có khối lượng lớn.
