Trở thành Thành viên thứ 150 của Tổ chức thương mại thế giới (WTO) sau 10 năm miệt mài đàm phán và thuyết phục cũng như liên tục chấn chỉnh hệ thống pháp luật quốc gia là một thành công của Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế thế giới. Nhưng đó chỉ là điểm khởi đầu, để thực sự hưởng lợi từ các quan hệ kinh tế, thương mại quốc tế Việt Nam còn phải tiếp tục và luôn luôn thực hiện những cam kết của mình trong nhiều lĩnh vực. Trong đó, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ (SHTT) là một trong những cam kết quan trọng không thể xem nhẹ.
Trong quá trình chuẩn bị gia nhập chính thức vào WTO, Việt Nam đã có những điều chỉnh lập pháp quan trọng. Ngoài ra, để gia nhập WTO, Việt Nam còn phải tiến hành hàng loạt các thay đổi về chính sách và pháp luật để tuân thủ các nguyên tắc và quy định của tổ chức này. Năm năm sau khi trở thành thành viên chính thức của WTO, Việt Nam đã và vẫn đang tiếp tục củng cố hệ thống pháp luật để thực thi ngày càng tốt hơn.
Hiểu một cách đúng đắn về một hệ thống sở hữu trí tuệ mạnh trong khuôn khổ những cam kết với tư cách thành viên của Hiệp định TRIPS (1) và thấy được những thách thức khi thực hiện các cam kết quốc tế trong lĩnh vực này (2) giúp Việt Nam dễ dàng có những bước chuẩn bị tốt trước những đòi hỏi bảo hộ SHTT ngày càng cao hơn trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới (3).
Bảo hộ quốc tế quyền sở hữu trí tuệ là một hoạt động có tính tất yếu, khách quan, không ngừng được phát triển, thể hiện trên hai hướng: mở rộng phạm vi các đối tượng được bảo hộ bằng các thiết chế quốc tế và không ngừng chi tiết hoá nội dung bảo hộ. Điều này, ngày càng gắn chặt với quan hệ thương mại song phương, khu vực và toàn cầu. Việc gắn bảo hộ sở hữu trí tuệ với thương mại quốc tế, một mặt, sẽ tạo điều kiện để có những cơ chế bảo hộ quốc tế hữu hiệu hơn về sở hữu trí tuệ, mặt khác, cũng sẽ gây ra rất nhiều sức ép và khó khăn cho các nước có trình độ khoa học công nghệ thấp, đang trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực hay toàn cầu phải thực thi các cam kết quốc tế về sở hữu trí tuệ.
Theo thống kê, số lượng DN VN đăng ký bảo hộ tại cơ quan hải quan để được bảo vệ cho chính sản phẩm của mình còn rất khiêm tốn (chiếm chưa đến 2% trong tổng số đơn được cơ quan hải quan chấp nhận bảo hộ). Trong khi đó, tình trạng hàng hóa mang nhãn hiệu của các DN VN đã có uy tín trên thị trường bị làm giả từ nước ngoài, sau đó được chuyển lậu vào nội địa tiêu thụ đã được cảnh báo từ một vài năm trước.
DN thờ ơ tạo cơ hội cho hàng giả. Cơ quan hải quan đã chủ động thông báo về việc đã xuất hiện hàng giả của chính DN nhưng một số DN nhận được thông báo lại không có sự phản hồi để cùng với cơ quan hải quan xây dựng những biện pháp phối hợp triển khai trong thực tế. Chính sự “thờ ơ” của các DN đã tạo cơ hội cho hàng giả xâm nhập nội địa, ảnh hưởng đến uy tín của chính DN, gây thiệt hại không nhỏ về mặt kinh tế và xã hội. Điều này cho thấy một thực tế là DN VN chưa thật sự định giá đúng giá trị của tài sản trí tuệ đối với sản phẩm do mình tạo ra, cũng như chưa nhận thức hết tác hại của hàng giả đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của mình.
LN
